Chồng chết, nhà của vợ có bị kê biên để bồi thường thiệt hại cho Nhà nước hay không? mới nhất

Cám ơn các bạn đã truy cập website của chúng tôi, để được tư vấn trực tiếp xin vui lòng liên hệ Hotline: 1900.0191. Sau đây sẽ là nội dung bài viết:

Tóm tắt tình huống: 

Chồng tôi phạm tội đi tù 18 tháng và phải bồi thường thiệt hại cho Nhà nước là 120 triệu đồng. Nay chồng tôi đã ra tù nhưng mắc bệnh hiểm nghèo và đã chết. Hiện giờ Nhà nước đòi cưỡng chế, tiến hành kê biên tài sản, tịch thu nhà của tôi. Hiện tại tôi sống cùng mẹ chồng già và 4 đứa con, điều kiện gia đình khó khăn. Xin hỏi Nhà nước ra quyết định tịch thu nhà của tôi có đúng không ạ? Mong luật sư giúp đỡ!
Người gửi: Trịnh Thị Hiền
Tư vấn luật: 1900.0191
Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình tới luật LVN. Về câu hỏi của bạn, công ty luật LVN xin tư vấn và hướng dẫn cho bạn như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

– Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
– Luật Thi hành án năm 2014.

2. Chồng chết, nhà của vợ có bị kê biên để bồi thường thiệt hại cho Nhà nước hay không? 

Theo quy định tại Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình thì “Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này” trong đó có nghĩa vụ phải bồi thường. Như vậy, đối với các nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm, thì bạn là vợ vẫn phải có trách nhiệm liên đới đối với nghĩa vụ đó mặc dù chồng bạn đã chết.
Theo quy định tại Điều 50 Luật Thi hành án, nếu người phải thi hành án- tức là chồng bạn chết không để lại di sản hoặc theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của  người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế; Người được thi hành án chết mà theo quy định của pháp luật quyền và lợi ích của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế hoặc không có người thừa kế thì sẽ đình chỉ thi hành án. 
Như vậy, cần phải xét xem căn nhà hiện tại bạn đang ở là tài sản chung hay là tài sản riêng của vợ chồng. Nếu căn nhà là tài sản riêng của người chồng (tức là căn nhà hình thành trước khi các bạn kết hôn, thuộc sở hữu của chồng bạn) và bạn, mẹ chồng cũng như 4 người con là người thừa kế thì tài sản sẽ bị kê biên theo quy định của pháp luật. Còn nếu đây là tài sản của bạn do bạn được thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc bạn có trước khi kết hôn, thì nó không nằm trong khối tài sản chung của hai vợ chồng và sẽ không bị kê biên theo quy định của pháp luật.
Nếu căn nhà là tài sản chung của hai vợ chồng, được hình thành trong thời kì hôn nhân thì sẽ được xử lý theo quy định tại Khoản 2 Điều 74 Luật Thi hành án. Cụ thể: 
“1. Tài sản kê biên thuộc sở hữu chung đã xác định được phần sở hữu của các chủ sở hữu chung được xử lý như sau:
a) Đối với tài sản chung có thể chia được thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế phần tài sản tương ứng với phần sở hữu của người phải thi hành án;
b) Đối với tài sản chung không thể chia được hoặc nếu việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với toàn bộ tài sản và thanh toán cho chủ sở hữu chung còn lại giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ”.
Như vậy, nếu căn nhà là tài sản chung của hai vợ chồng thì việc nhà nước thực hiện kê biên tài sản để thi hành án khi chồng bạn chết là đúng. Việc xử lý tài sản đối với căn nhà – là tài sản không chia được thì Chấp hành viên có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với toàn bộ tài sản và thanh toán cho chủ sở hữu chung còn lại giá trị tài sản thuộc quyền sở hữu của bạn. Tuy nhiên, bạn sẽ được quyền ưu tiên mua phần tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản thuộc sở hữu chung. Trước khi bán tài sản lần đầu đối với căn nhà, Chấp hành viên thông báo và định thời hạn cho bạn theo giá đã định trong thời hạn 03 tháng.
Tuy nhiên xét thấy, hiện tại hoàn cảnh gia đình bạn đang khó khăn, bạn đang phải sống cùng mẹ chồng già và 4 đứa con nhỏ nên bạn có thể làm hồ sơ để xin miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khản thu nộp ngân sách nhà nước theo Điều 61 của Luật thi hành án. Cụ thể:
“1. Người phải thi hành án được xét miễn nghĩa vụ thi hành án khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Không có tài sản hoặc có tài sản nhưng tài sản đó theo quy định của pháp luật không được xử lý để thi hành án hoặc không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án và người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng;
b) Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước có giá trị dưới 2.000.000 đồng hoặc hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 5.000.000 đồng.
3. Người phải thi hành án đã thi hành được một phần khoản thu nộp ngân sách nhà nước mà thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này thì được xét giảm một phần nghĩa vụ thi hành án khi có một trong các điều kiện sau đây:
a) Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, mỗi lần giảm không quá một phần tư số tiền còn lại phải thi hành án;
b) Hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ trên 100.000.000 đồng, mỗi lần giảm không quá một phần năm số tiền còn lại phải thi hành án nhưng tối đa không quá 50.000.000 đồng.
4. Người phải thi hành án đã tích cực thi hành được một phần án phí, tiền phạt nhưng lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể tiếp tục thi hành được phần nghĩa vụ còn lại hoặc lập công lớn thì được xét miễn thi hành phần nghĩa vụ còn lại”.
Trường hợp của bạn sẽ không được miễn nghĩa vụ thi hành án vì bạn không đáp ứng đồng thời quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều này. Tuy nhiên, vì bạn có hoàn cảnh khó khăn, có thể là có thu nhập chỉ đảm bảo cuộc sống tối thiểu cho mẹ chồng và 4 đứa con nên bạn có thể nộp một phần khoản thu ngân sách nhà nước và xin được xét giảm một phần nghĩa vụ thi hành án khi đáp ứng điểm a hoặc điểm b khoản 3 tại Điều trên. 
Trên đây là tư vấn của công ty Luật LVN về việc Chồng chết, nhà của vợ có bị kê biên để bồi thường thiệt hại cho Nhà nước hay không? Chúng tôi hi vọng rằng quý khách có thể vận dụng các kiến thức kể trên để sử dụng trong công việc và cuộc sống. Nếu có vấn đề pháp lý nào khác cần tư vấn quý khách vui lòng gọi điện tới tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 24/7 của công ty Luật LVN để gặp luật sư tư vấn và chuyên viên pháp lý.
Chuyên viên: Trần Thị Hải

Bài viết được thực hiện bởi: Luật sư. Nguyễn Văn Đại (Công ty Luật TNHH LVN)

Để được giải đáp thắc mắc về: Chồng chết, nhà của vợ có bị kê biên để bồi thường thiệt hại cho Nhà nước hay không?
Vui lòng gọi Tổng đài luật sư tư vấn pháp luật 24/7: 1900.0191

Để gửi Email tư vấn pháp luật, Báo giá dịch vụ pháp lý hoặc đặt Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp.
Vui lòng click tại đây

CÔNG TY LUẬT TNHH VIỆT PHONG

 Hà Nội – Biệt thự 2.11 đường Nguyễn Xuân Khoát, KĐT Ngoại Giao Đoàn, Q. Bắc Từ Liêm
– Số 82 Nguyễn Tuân, Phường Thanh Xuân Trung, Quận Thanh Xuân

 Hưng Yên – Số 73 đường Nguyễn Văn Linh, Phường Bần Yên Nhân, Thị xã Mỹ Hào

Nếu có vướng mắc bạn vui lòng liên hệ với Luật sư 1900.0191

hoặc Bạn có thể click vào các ô dưới đây để gửi Emailcho chúng tôi, Luật LVN luôn sẵn sàng để hỗ trợ bạn

SOẠN HỢP ĐỒNG, ĐƠN, VĂN BẢN THEO YÊU CẦU CHỈ 500.000đ

--- Gọi ngay 1900.0191 ---

(Tư vấn Miễn phí - Hỗ trợ 24/7)

Công ty Luật LVN - Địa chỉ: Số 16B Nguyễn Thái Học, Yết Kiêu, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam

Gmail: luatlvn@gmail.com