HIỆP ĐỊNH

THƯƠNG
MẠI VÀ HỢP TÁC KINH TẾ, KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ NƯỚC CỘNG HOÀ MAN-TA (1977).

Chính phủ nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam và chính phủ nước Cộng hoà Man-ta, xuất phát từ lòng mong
muốn và kỹ thuật giữa hai nước trên các nguyên tắc tôn trọng, độc lập và chủ
quyền của nhau, bình đẳng và cùng có lợi nhằm tăng cường quan hệ hữu nghị giữa
nhân dân hai nước đã thoả thuận như sau:

Điều 1: -Hai bên ký kết
sẽ cố gắng phát triển quan hệ thương mại và hợp tác kinh tế, khoa học và kỹ
thuật giữa hai nước và sẽ thi hành những biện pháp cần thiết để thực hiện mục
đích đó căn cứ vào luật pháp và thể lệ hiện hành tại hai nước.

Điều 2: -Hai bên ký kết
sẽ dành cho nhau chế độ đối xử tối huệ quốc về thuế Hải quan và cacc thứ thuế
khác đánh vào hàng hoá xuất nhập khẩu giữa hai nước. Tuy nhiên, điều khoản này
sẽ không áp dụng đối với những đặc huệ mà mỗi bên đã hoặc sẽ giành cho các nước
láng giềng hoặc nước khác do việc gia nhập, tham gia hoặc liên kết, dưới bất kỳ
hình thức nào, với một khối liên hiệp quan thuế, kế cả mọi thoả thuận đặc biệt
về thuế quan và thương mại có tính chất khu vực.

Điều 3: -Mọi khoản thanh
toán thông thường giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà
Man-ta sẽ được thực hiện bằng các đồng tiền tự do chuyển đổi được do hai bên
thoả thuận và phù hợp với các thể lệ quản lý ngoại hối hiện hành tại hai nước.

Điều 4: -Hai bên cam kết
rằng hàng hoá bên này nhập từ nước bên kia sẽ không được tái xuất trừ trường
hợp có sự thoả thuận trước của bên có hàng xuất khẩu là những mặt hàng đó có
thể được tái xuất.

Điều 5. -Theo đúng luật
lệ hiện hành tại hai nước, hai bên ký kết sẽ dành cho nhau mọi sự dễ dàng trong
trong việc tổ chức và tham dự các hội chợ thương mại định kỳ và bầt thường tại
nước mình.

Điều 6. -Trong khuôn khổ
luật lệ hiện hành tại hai nước, các tầu buôn của mỗi bên cùng với hàng hoá trên
tàu sẽ được hưởng mọi sự dễ dàng cần thiết về hàng hải, thuế và lệ phí, thủ tục
và về việc sử dụng các dịch vụ bốc, dỡ hàng và các dịch vụ khác trong thời gian
các tầu đó vào, đậu và dời các cảng thương mại của nước bên kia.

Điều 7. -Hai bên cam kết
mở rộng việc buôn bán giữa hai nước theo các kế hoạch hàng năm do Uỷ ban hỗn
hợp thành lập theo điều 9 nghiên cứu và quyết định.

Điều 8. -Nhằm đảm bảo
thực hiện hiệp định này, hai bên ký kết sẽ thành lập một Uỷ ban hỗn hợp Việt
Nam-Manta về thương mại và hợp tác kinh tế, khoa học và kỹ thuật.

Uỷ ban hỗn hợp sẽ họp mỗi năm
một lần hoặc theo yêu cầu của một trong hai bên tại địa điểm và thời gian thuận
tiện cho cả hai bên.

Điều 10. -Hiệp định này
có giá trị trong thời gian năm năm và sẽ bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày tháng
hai chính phủ trao đổi văn kiện phê chuẩn. Sáu tháng trước ngày hiệp định hết
hạn, hai bên ký kết sẽ thoả thuận về các biện pháp cần thiết nhằm đảm bảo phát
triển liên tục việc buôn bán và sự hợp tác kinh tế, khoa học và kỹ thuật giữa
hai nước.

Điều 11. -Mỗi bên ký kết
đều có thể kết thúc Hiệp định nếu mình muốn với điều kiện là phải thông báo
bằng văn bản cho bên kia biết chậm nhất là sáu tháng trước ngày hiệp định này
hết hạn.

Làm tại Valletta ngày 30 tháng
11 năm 1977 thành hai bản chính bằng tiếng Anh.

 

THAY
MẶT CHÍNH PHỦ NƯỚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Hoàng Trọng Đại

THAY
MẶT CHÍNH PHỦ NƯỚC

CỘNG HOÀ MAN-TA

Bobert. J.Stivala

 

SOẠN HỢP ĐỒNG, ĐƠN, VĂN BẢN THEO YÊU CẦU CHỈ 500.000đ

--- Gọi ngay 1900.0191 ---

(Tư vấn Miễn phí - Hỗ trợ 24/7)

Công ty Luật LVN - Địa chỉ: Số 16B Nguyễn Thái Học, Yết Kiêu, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam

Gmail: luatlvn@gmail.com

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********

Số: 441-TTg

Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 1977

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ VIỆC CHUYỂN GIAO CÔNG TÁC CUNG ỨNG VÀ PHỤC VỤ TÀU BIỂN NƯỚC NGOÀI SANG CÁC ĐỊA PHƯƠNG QUẢN LÝ.

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Sau khi nghiên cứu đề nghị của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng và ý kiến của đại biểu Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trong hội nghị xuất khẩu toàn quốc tháng 7 năm 1977 tại thành phố Hồ Chí Minh;
Xét sự cần thiết phải đẩy mạnh công tác xuất khẩu tại chỗ dưới hình thức hoạt động cung ứng và phục vụ các tàu nước ngoài đến cảng Việt Nam.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Chuyển giao công tác quản lý và kinh doanh cung ứng và phục vụ các tàu biển nước ngoài từ Công ty du lịch Việt Nam sang Ủy ban nhân dân các thành phố, các tỉnh có cảng phụ trách, kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1978. Đối với thành phố Hồ Chí Minh, trước đây đã có quyết định chuyển giao công tác cung ứng và phục vụ tàu biển nước ngoài cho thành phố đảm nhiện, nay cũng thi hành thống nhất các chế độ nói trong bản quyết định này. Đối với việc kinh doanh và phục vụ công tác khai thác dầu khí ở thị xã Vũng Tàu thuộc tỉnh Đồng Nai thì thi hành theo quyết định riêng.

Nội dung công tác cung ứng tàu biển gồm có: cung cấp nước ngọt, than, củi, gỗ chèn lót (cả gỗ tròn, gỗ xẻ, gỗ dán), xăng dầu, lương thực, thực phẩm (tươi sống và chế biến), hàng thủ công mỹ nghệ, hàng lưu niệm và các công việc phục vụ như sửa chữa nhỏ trên tàu, may đo quần áo, giặt là, cắt tóc, chữa bệnh, bán hàng giải khát, tổ chức câu lạc bộ thủy thủ v.v …

Các Bộ, Tổng cục có liên quan cần giúp đỡ Ủy ban nhân dân các tỉnh, các thành phố tổ chức và quản lý các cơ sở cung ứng và phục vụ tàu biển nước ngoài, bảo đảm phát triển xuất khẩu tại chỗ theo sự hướng dẫn của Bộ Ngoại thương.

2. Ủy ban nhân dân các thành phố, các tỉnh có cảng biển cần liên hệ với Bộ Ngoại thương, Bộ Giao thông vận tải,Công ty du lịch Việt Nam để nắm tình hình hoạt động cung ứng tàu biển: những loại vật tư và hàng hóa cung ứng, những công việc phục vụ đã làm; giá hàng, giá phục vụ và số ngoại tệ đã thu được để rút kinh nghiệm xây dựng kế hoạch và nắm công tác quản lý. Đồng thời, các địa phương nhanh chóng tiếp nhận những cơ sở và bộ máy làm công tác cung ứng và phục vụ tàu biển và củng cố tổ chức quản lý kinh doanh, bảo đảm hoạt động liên tục và có hiệu lực.

3. Công ty du lịch Việt Nam bàn giao kế hoạch kinh doanh, cơ sở vật chất, tổ chức kinh doanh cung ứng tàu biển hiện nay cho Ủy ban nhân dân các tỉnh và thành phố trước ngày 31 tháng 12 năm 1977.

4. Bộ Giao thông vận tải chỉ đạo giám đốc các cảng biển chuyển giao công việc và các phương tiện cung ứng nước ngọt cho tàu biển sang các địa phương quản lý.

5. Ủy ban nhân dân các thành phố và tỉnh có kinh doanh cung ứng tàu biển có trách nhiệm lập kế hoạch kinh doanh hàng năm và dài hạn về những vật tư quan trọng cung ứng cho tàu biển như xăng dầu (cung cấp qua hệ thống của Bộ Vật tư), than, gỗ và các mặt hàng khác do Nhà nước quản lý để Ủy ban Kế hoạch Nhà nước tổng hợp vào kế hoạch vật tư và ghi chỉ tiêu phân phối. Đối với những mặt hàng tươi sống và chế biến do địa phương quản lý thì Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố lập kế hoạch sản xuất và cung ứng.

Về mặt phục vụ tàu biển, địa phương chỉ đạo các cơ sở sẵn có để làm các việc như : sửa chữa nhỏ trên tàu, làm vệ sinh tàu và các công việc phục vụ khác như may đo quần áo, đóng giày dép, giặt là, cắt tóc, giải khát. Phải chú ý tăng cườn giáo dục chính trị tư tưởng, bồi dưỡng nghiệp vụ, đồng thời có chế độ khuyến khích thỏa đáng đối với cơ sở cũng như đối với số cán bộ, công nhân, nhân viên làm công tác tương ứng tàu biển nước ngoài để bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Việc tổ chức cho thủy thủ người nước ngoài ra khỏi phạm vi cảng để vào thành phố hoặc ra khỏi thành phố, vẫn do ngành du lịch chịu trách nhiệm.

6. Các Bộ Ngoại thương, Vật tư, Tài chính, Ngân hàng Nhà nước. Giao thông vận tải và các Bộ, các Tổng cục có liên quan có trách nhiệm giúp đỡ Ủy ban nhân dân các thành phố và tỉnh có cảng, tổ chức và quản lý các cơ sở cung ứng và phục vụ tàu biển và hoạt động câu lạc bộ thủy thủ, nhằm đẩy mạnh xuất khẩu tại chỗ như nghị quyết số 280-CP ngày 20/10/1977 của Hội đồng chính phủ về phát triển sản xuất, đẩy mạnh sản xuất.

Bộ Ngoại thương, Bộ Tài chính hướng dẫn các địa phương xác định giá bán tính bằng ngoại tệ, các vật tư, hàng hóa cung ứng cho tàu biển, bảo đảm mức thống nhất về giá bán giữa các cảng trong nước và có sức cạnh tranh với các cảng quốc tế lân cận; hướng dẫn giá định mức hàng năm và giải quyết bù chênh lệnh đối với số xăng dầu cung ứng cho tàu biển nước ngoài, tạo điều kiện cho việc cung ứng tàu biển đạt hiệu quả kinh tế cao, gây ảnh hưởng tốt đối với thủy thủ nước ngoài qua lại cảng nước ta.

7. Toàn bộ số ngoại tệ do các địa phương thu được do kinh doanh cung ứng và phục vụ tàu biển đều gửi tại ngân hàng ngoại thương theo chế độ hiện hành. Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm hướng dẫn các địa phương có kinh doanh cung ứng và phục vụ tàu biển về cách thức thu ngoại tệ, thủ tục thanh toán, tránh các sơ hở có thể xảy ra.

Để tạo thêm điều kiện cho các địa phương bổ sung trang thiết bị nhằm phát triển sản xuất và mở rộng kinh doanh cung ứng và phục vụ tàu biển nước ngoài, góp phần phát triển kinh tế địa phương, Thủ tướng Chính phủ cho phép Ủy ban nhân dân các thành phố, các tỉnh có kinh doanh cung ứng tàu biển được sử dụng 70% số ngoại tệ thu được từ những sản phẩm do địa phương sản xuất và từ các công việc phục vụ tàu biển nước ngoài; 30% số ngoại tệ còn lại phải kết hối vào quỹ ngoại tệ của Nhà nước.

Đối với số ngoại tệ thu được do cung ứng xăng dầu, than, gỗ chèn lót do Nhà nước phân phối, các địa phương được xét mức thưởng khuyến khích xuất khẩu như quyết định số 151-CP ngày 01-07-1974 của Hội đồng chính phủ đã quy định.

8. Ủy ban nhân dân các thành phố, tỉnh phải thường xuyên giáo dục chính trị, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho số cán bộ, công nhân, nhân viên làm công tác cung ứng tàu biển, đôn đốc kiểm tra việc chấp hành chặt chẽ nội quy khi tiếp xúc với người nước ngoài, các chế độ quản lý ngoại hối, kim loại quý, đá quý. Cần xử lý thích đáng những trường hợp cố tình vi phạm các chế độ, thể lệ của Nhà nước.

 

 

K.T THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
PHÓ THỦ TƯỚNG

Phạm Hùng

 

SOẠN HỢP ĐỒNG, ĐƠN, VĂN BẢN THEO YÊU CẦU CHỈ 500.000đ

--- Gọi ngay 1900.0191 ---

(Tư vấn Miễn phí - Hỗ trợ 24/7)

Công ty Luật LVN - Địa chỉ: Số 16B Nguyễn Thái Học, Yết Kiêu, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam

Gmail: luatlvn@gmail.com

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC-BỘ
TÀI CHÍNH
******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********

Số: 15-TT/LB/TC/NH

Hà Nội, ngày 02
tháng 12 năm 1977 

 

THÔNG TƯ

 

HƯỚNG DẪN VIỆC TẬP TRUNG, ĐIỀU HÒA VỐN LƯU ĐỘNG THỪA Ở CÁC
XÍ NGHIỆP QUỐC DOANH DO THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG CẢI TIẾN VÀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG NGÂN
HÀNG

Thi hành quyết định số 32-CP
ngày 11-02-1977 của Hội đồng Chính phủ về chủ trương cải tiến và mở rộng tín dụng
ngân hàng và thông tư liên Bộ Ngân hàng Nhà nước – Tài chính số 14-LB/TT ngày
24-02-1977, một số Bộ, Tổng cục, tỉnh, thành đã cùng Ngân hàng Nhà nước điều
hòa vốn lưu động ở các xí nghiệp quốc doanh. Nhưng việc làm này còn chậm vì
chưa thông suốt, nay Liên Bộ Tài chính – Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn dưới đây
việc tập trung, điều hòa số vốn lưu động thừa nói trên để các Bộ, Tổng cục, các
tỉnh, thành thống nhất thực hiện.

I. NGUYÊN TẮC
TẬP TRUNG, ĐIỀU HÒA VỐN LƯU ĐỘNG THỪA DO THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG CẢI TIẾN VÀ MỞ RỘNG
TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

1. Định mức vốn lưu động và kế
hoạch nguồn vốn đảm bảo thực hiện định mức vốn lưu động được Bộ, Tổng cục, Ty,
Sở chủ quản xét duyệt sau khi đã thỏa thuận với cơ quan tài chính và Ngân hàng
Nhà nước là căn cứ để xác định phần vốn lưu thông thừa do thực hiện chủ trương
cải tiến và mở rộng tín dụng ngân hàng để tập trung và điều hòa sử dụng.

2. Mỗi Bộ, Tổng cục, Ty, Sở chủ
quản được mở một tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước chuyên dùng cho việc này và
được quyền dùng số vốn lưu động thừa đã tập trung được để điều hòa tăng vốn
ngân sách cấp cho xí nghiệp thiếu vốn lưu động được duyệt ở trong ngành và
trong địa phương, và không được dùng số vốn lưu động thừa này vào bất cứ mục
đích nào khác. Đối với xí nghiệp quốc doanh địa phương được cấp vốn lưu động bằng
nguồn vốn của Bộ, Tổng cục, nếu có vốn lưu động thừa thì phải tập trung về tài
khoản chuyên dùng của Bộ, Tổng cục.

3. Sau khi đã điều hòa đủ vốn,
lưu động cho các xí nghiệp thiếu, các Bộ, Tổng cục, Ty, sở chủ quản phải trích
chuyển phần vốn lưu động thừa còn lại này vào tài khoản do liên bộ quy định:

– Đối với số vốn lưu động thừa
thuộc các Bộ, Tổng cục, sau khi đã điều hòa xong, Bộ tài chính sử dụng cấp vốn
lưu động cho các Bộ, Tổng cục khác còn thiếu và số còn lại để sử dụng trong
quan hệ thanh toán giữa ngân sách trung ương với ngân hàng Nhà nước.

– Đối với số vốn lưu động thừa của
các tỉnh, thành thì nộp trả ngân sách địa phương của tỉnh, thành, Ủy ban nhân
dân tỉnh, thành quyết định cách sử dụng, trên nguyên tắc là chỉ sử dụng cho các
mục đích mở rộng và phát triển kinh tế địa phương: không dùng cho các yêu cầu
tiêu dùng.

II. THỦ TỤC TẬP
TRUNG VÀ ĐIỀU HÒA VỐN LƯU ĐỘNG THỪA DO THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG CẢI TIẾN VÀ MỞ RỘNG
TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

1. Mỗi Bộ, Tổng cục chủ quản xí
nghiệp được mở tại Ngân hàng Nhà nước trung ương (Vụ kế toán và quản lý quỹ
ngân sách Nhà nước) tài khoản 04-012 “Vốn lưu động thừa do cải tiến và mở rộng
tín dụng ngân hàng” để tập trung, điều hòa vốn lưu động giữa các xí nghiệp quốc
doanh thuộc Bộ, Tổng cục quản lý.

Mỗi Sở, Ty chủ quản xí nghiệp được
mở tại ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố một tài khoản như trên.

2. Căn cứ vào thông báo của cơ
quan chủ quản về mức vốn lưu động thừa ở xí nghiệp do cải tiến và mở rộng tín dụng,
xí nghiệp làm giấy nhận Nợ với ngân hàng Nhà nước cơ sở phục vụ mình. Ngân hàng
Nhà nước cơ sở ghi Nợ tài khoản cho vay vốn lưu động (trong kế hoạch, trong định
mức, luân chuyển và dự trữ vật tư), ghi Có tài khoản liên hàng đi để tập trung
vốn về tài khoản 04-012 của từng ty, sở chủ quản, xí nghiệp ở tỉnh, thành phố
(đối với xí nghiệp quốc doanh địa phương) hoặc tài khoản 04-012 của từng Bộ, Tổng
cục chủ quản, xí nghiệp ở Ngân hàng trung ương (đối với xí nghiệp quốc doanh
trung ương).

Nhận được giấy báo Nợ của ngân
hàng, các xí nghiệp tiến hành ghi Nợ tài khoản 85-2, Có tài khoản 93-1 số vốn
lưu động thừa nói trên.

3. Trên cơ sở số vốn đã tập
trung được, Bộ, Tổng cục chủ quản làm thủ tục trích tài khoản 04-012 để cấp vốn
lưu động do ngân sách cấp thiếu cho các xí nghiệp khác thuộc quyền quản lý của
mình. Đối với các tỉnh, thành phố, theo đề nghị của Sở, Ty tài chính, được Ủy
ban nhân dân tỉnh, thành duyệt có thể trích để điều hòa vốn lưu động cho các xí
nghiệp thiếu vốn ở các Ty, Sở khác trong cùng một địa phương (trừ các cấp xí
nghiệp quốc doanh địa phương được cấp vốn bằng nguồn vốn của Bộ, Tổng cục như
đã nói ở điểm 2 phần 1).

Xí nghiệp được cấp thêm vốn lưu
động phải làm thủ tục tăng vốn lưu động ngân sách Nhà nước cấp.

4. Sau khi điều hòa đủ vốn lưu động
cho tất cả các xí nghiệp trong cùng một Bộ, Tổng cục, hoặc trong cùng một địa
phương, số vốn còn lại ở tài khoản 04-012 của các Bộ, Tổng cục được trích chuyển
hết vào tài khoản 04-012 của Bộ Tài chính để Bộ Tài chính sử dụng cấp vốn lưu động
cho các Bộ, Tổng cục khác còn thiếu và số còn lại để sử dụng trong quan hệ
thanh toán giữa ngân sách trung ương với ngân hàng Nhà nước. Số vốn còn lại ở
tài khoản 04-012 của các sở, ty được chuyển vào ngân sách địa phương của tỉnh,
thành để Ủy ban nhân dân tỉnh, thành quyết định cách sử dụng.

III. BIỆN
PHÁP TIẾN HÀNH

1. Các Bộ, Tổng cục, ty, sở chủ
quản, xí nghiệp lập bảng tổng hợp duyệt vốn lưu động năm 1977 theo chế độ hiện
hành gửi các cơ quan ngân hàng Nhà nước và tài chính đồng cấp, đồng thời thông
báo quyết định duyệt vốn và điều động vốn cho các xí nghiệp thuộc quyền quản lý
của mình.

Các xí nghiệp quốc doanh phải
liên hệ ngay với ngân hàng Nhà nước phục vụ mình để làm thủ tục nhận nợ và nộp
vốn lưu động thừa về tài khoản của cơ quan chủ quản để các Bộ, Tổng cục, ty, sở
có tiền điều hòa ngay cho các xí nghiệp thiếu vốn

2. Việc tập trung và điều hòa vốn
lưu động thừa ở các xí nghiệp quốc doanh do cải tiến và mở rộng tín dụng ngân
hàng phải làm dứt điểm trong một thời gian nhất định. Đến khi hoàn thành việc
điều hòa vốn lưu động như đã hướng dẫn trên, Ngân hàng Nhà nước sẽ trích hết số
dư tài khoản 04-012 của các Bộ, Tổng cục, chuyển vào tài khoản của Bộ Tài chính
nói ở điểm 4 phần II trên đây và trích số dư tài khoản 04-012 của các ty, sở
chuyển vào ngân sách địa phương.

Liên Bộ Tài chính – Ngân hàng
Nhà nước yêu cầu các Bộ, Tổng cục, sở, ty chủ quản xí nghiệp phối hợp chặt chẽ
cùng các cơ quan tài chính, ngân hàng Nhà nước đồng cấp, trong phạm vi trách
nhiệm của mình, giúp đỡ và thúc đẩy xí nghiệp thi hành đúng quy định của Nhà nước
.

Thông tư này được thi hành sau
khi ban hành; các văn bản quy định trước đây trái với thông tư này đều bãi bỏ.

 

KT.
TỔNG GIÁM ĐỐC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC

Trần Linh Sơn

KT.
BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH
THỨ TRƯỞNG

Đào Thiện Thi

 

SOẠN HỢP ĐỒNG, ĐƠN, VĂN BẢN THEO YÊU CẦU CHỈ 500.000đ

--- Gọi ngay 1900.0191 ---

(Tư vấn Miễn phí - Hỗ trợ 24/7)

Công ty Luật LVN - Địa chỉ: Số 16B Nguyễn Thái Học, Yết Kiêu, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam

Gmail: luatlvn@gmail.com

ỦY
BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
——

CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
——–

Số:
75/CT-UB

Tp.
Hồ Chí Minh, ngày 02 tháng 12 năm 1977

 

CHỈ THỊ

VỀ
VIỆC TUYỂN CHỌN CÁN BỘ ĐI HỌC KHÓA I VỀ NGHIỆP VỤ QUẢN LÝ KINH TẾ THEO HÌNH
THỨC TẠI CHỨC

Được sự đồng ý của Thường vụ
Thành ủy và sự giúp đỡ tích cực của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Ủy
ban nhân dân thành phố quyết định sẽ mở khóa I về bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý
kinh tế theo hình thức tại chức cho cán bộ hiện đang đảm đang nhiệm vụ quản lý
các địa phương, các ngành, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, hành chánh sự nghiệp
trong thành phố.

Đây cũng là điều mà lâu nay
Thành ủy, Ủy ban mong muốn sớm được thực hiện yêu cầu đào tạo bồi dưỡng cán bộ
tại chổ, tại chức nhằm trang bị kiến thức cơ bản về khoa học quản lý kinh tế xã
hội chủ nghĩa, trước hết là đối với cán bộ lãnh đạo và một số cán bộ nghiên cứu
chủ chốt nhằm khắc phục những mặt còn yếu trong quản lý kinh tế, quản lý công tác
và trên cơ sở đó nâng cao một bước kiến thiết và năng lực lãnh đạo của cán bộ,
thực hiện tốt những mục tiêu nhiệm vụ mà nghị quyết đại hội Đảng bộ Thành phố
lần thứ I đã đề ra.

Chương trình học sẽ bao gồm các
nội dung chính : khoa học quản lý, nguyên lý kế hoạch hóa kinh tế, quốc dân,
các nguyên lý kế toán tài chánh, thống kê kinh tế, phân tích hợp đồng kinh tế
và các nghiệp vụ về quản lý kinh tế công nghiệp, kinh tế nông nghiệp, kinh tế
thương nghiệp v.v… Theo thứ tự của chương trình, học viên học tới đâu sẽ nghiên
cứu vận dụng tới đó trong công tác hiện tại của mình. Kết thúc khóa học, học
viên sẽ có một kiến thức cơ bản về phương pháp quản lý kinh tế, có thể vận dụng
thực hiện trong ngành mình đồng thời hiểu được nghiệp vụ của các ngành khác để
hợp đồng nhịp nhàng với nhau thực hiện tốt các nhiệm vụ chủ trương chung.

Trường Đại học Kinh tế Thành phố
Hồ chí Minh sẽ đảm nhiệm việc giảng dạy. Từng lúc nhà trường và Ủy ban sẽ tổ
chức báo cáo ngoại khóa để hổ trợ cho khóa học thêm sinh động. Khóa học sẽ hoàn
thành trong 14 tháng.

Sau đây là một số yêu cầu thực
hiện:

1- ĐỐI TƯỢNG TUYỂN CHỌN ĐI
HỌC

a/ Các Sở, Ban, Ngành Thành phố
:

Mỗi ban Giám đốc Sở, Ngành trực
thuộc Thành phố cử một đồng chí đi học.

– Các Công ty, xí nghiệp, trạm
trại, phòng ,trường, bệnh viện v.v… trực thuộc Sở, ngành mỗi đơn vị được cử từ
1 đến 2 đồng chí trong Ban phụ trách đi học.

Cán bộ kế cận hoặc cán bộ nghiên
cứu có bậc lương từ cán sự (hoặc tương đương) trở lên được cử đi học với số
lượng nhiều hơn trong phạm vi chỉ tiêu chung nêu dưới đây.

b/ Các Quận Huyện :

– Mỗi Quận, Huyện cử từ 2 đến 3
đồng chí là Quận, Huyện ủy viên và thành viên UBND Quận, Huyện đi học.

– Các phòng nghiệp vụ, chuyên
môn, các cơ sở sản xuất kinh doanh trực thuộc Quận, Huyện mỗi đơn vị được cử từ
1 đến 2 trong ban phụ trách đi học.

– Cán bộ kế cận hoặc cán bộ
nghiên cứu có bậc lương từ cán sự 3 (hoặc tương đương) trở lên, được cử đi học
với số lượng nhiều hơn trong phạm vi chỉ tiêu chung nêu dưới đây.

Nói chung, cán bộ được cử đi học
khóa này chỉ giới hạn trong phạm vi cán bộ đang làm nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý
kinh tế và một số cán bộ kế cận, cán bộ nghiên cứu chủ chốt, có quá trình tham
gia cách mạng ít nhất tứ 5 năm trở lên.

Về trình độ văn hóa: cán bộ đi
học cần có trình độ văn hóa ít nhất tươngđương cấp 2, có thể tiếp thu tốt và
sau đây có thể nghiên cứu, hướng dẫn thực hiện trong địa bàn mình, ngành mình.

Những cán bộ đương nhiệm về công
tác quản lý kinh tế đã có trình độ đại học hoặc trên đại học về kỷ thuật chuyên
môn nhưng chưa học về nghiệp vụ quản lý kinh tế cũng thuộc đối tượng cử đi học
lớp này.

Về tuổi tác, nói chung không hạn
chế nhưng cần chú ý cán bộ có khả năng theo đuổi học tập đến nơi đến chốn.

Cứ vào quy mô tổ chức, số lượng
cán bộ và nhu cầu công tác, Ủy ban chỉ định…………………………………………được cử…………………..cán
bộ theo các thành phần nói trên đi học khóa này.

2/ BIỆN PHÁP TUYỂN CHỌN CÁN
BỘ ĐI HỌC

Căn cứ vào chỉ tiêu quy định nói
trên, Ban Giám đốc các Sở, Ban, Ngành và Thường vụ Quận, Huyện Ủy, Ủy ban nhân
dân Quận, Huyện tiến hành xét chọn cán bộ đi học khóa I quản lý kinh tế. Cần ưu
tiên chọn những cán bộ kháng chiến tại chỗ và những cán bộ ở A về nhưng trước
đây chưa học về nghiệp vụ quản lý kinh tế đi học lớp này để làm hạt nhân cho
việc cải tiến nề nếp quản lý kinh tế trong ngành mình, địa phương mình. Tránh
việc đưa các đồng chí đang chờ đợi bố trí công tác hoặc sắp chuyển công tác
khác đi học.

Mỗi cán bộ được cử đi học cần có
các thủ tục :

– Làm hai bản sơ yếu lý lịch
(theo mẫu kèm theo)

– Một giấy chứng học lực nếu
không có bản sao văn bằng thì cơ quan chứng nhận trình độ tương đương.

– Từng Sở, Ban, Ngành, Quận,
Huyện ra quyết định cử cán bộ đi học có danh sách cụ thể.

– Các thủ tục hồ sơ nói trên cần
cử cán bộ tổ chức mang tập trung đến bàn giao tại trường đào tạo tại chức (86
Lê Thánh Tôn Quận I) chậm nhất là ngày 15.12.1977.

Cuối tháng 12/1977 Ủy ban sẽ
thông báo danh sách cán bộ được tuyển vào khóa học I lớp nghiệp vụ quản lý kinh
tế và lớp học sẽ khai mạc vào trung tuần tháng 1/1978.

Chú ý : có thể cử đủ số lượng
hoặc nhiều hơn một ít so với chỉ tiêu quy định. Không nên cử dưới mức chỉ tiêu

3/ VỀ HỌC TẬP :

Theo quy chế chung, cán bộ được
cơ quan cử đi học tại chức được nghỉ công tác mỗi tháng 4 ngày để nghe giảng
tập trung và hàng tuần 3 tối nghiên cứu bài, làm bài tập. Qua từng môn học và
cuối khóa học, học viên sẽ có một thời gian cần thiết (do trường Đại học Kinh
tế quy định) để ôn tập, kiểm tra. Khóa học sẽ có tổng kết và cấp giấy chứng
nhận cho học viên đạt kết quả tất cả các môn học.

Trưởng đào tạo tại chức sẽ đài
thọ các khoản in ấn tài liệu, phụ cấp giảng viên và các khoản chi phí về phương
tiện giảng dạy, học tập. Cơ quan cử cán bộ đi học cấp giấy bút và các khoản chi
phí khác như chế độ đối với cán bộ đi công tác, Ủy ban sẽ ban hành một cách
toàn diện về chế độ, chính sách, nội quy đối với cán bộ đi học các trường lớp
tại chức.

Nhận được chỉ thị nảy, các Sở,
Ban, Ngành,Quận, Huyện xét chọn và báo cáo danh sách hồ sơ lý lịch cán bộ cử đi
học một cách khẩn trương theo thời gian đã nêu trên.

 

 

Nơi gửi :
-Các Sở, Ban, ngành
-UBND các Quận, Huyện
-VF thành ủy
-VF Ủy ban
-Bộ Đại học và THCN
-Trường Đại học kinh tế
-Trường Đại học tại chức
-Lưu VF ủy ban.

TM.
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH

Lê Quang Chánh

 

 

Nơi gửi :
-Các Sở, Ban, ngành
-UBND các Quận, Huyện
-VF thành ủy
-VF Ủy ban
-Bộ Đại học và THCN
-Trường Đại học kinh tế
-Trường Đại học tại chức
-Lưu VF ủy ban.

TM.
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH

Lê Quang Chánh

SOẠN HỢP ĐỒNG, ĐƠN, VĂN BẢN THEO YÊU CẦU CHỈ 500.000đ

--- Gọi ngay 1900.0191 ---

(Tư vấn Miễn phí - Hỗ trợ 24/7)

Công ty Luật LVN - Địa chỉ: Số 16B Nguyễn Thái Học, Yết Kiêu, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam

Gmail: luatlvn@gmail.com

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********

Số: 443-TTg

Hà Nội, ngày 06 tháng 12 năm 1977

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ CHẾ ĐỘ LẬP KẾ HOẠCH, HẠCH TOÁN GIÁ THÀNH VÀ PHÍ LƯU THÔNG ĐỐI VỚI CÁC XÍ NGHIỆP QUỐC DOANH Ở CÁC TỈNH MIỀN NAM

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Để từng bước thống nhất chế độ quản lý đối với khu vực kinh tế quốc doanh trong phạm vi cả nước;
Theo đề nghị của đồng chí Bộ trưởng Bộ Tài chính.

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. – Nay cho phép các xí nghiệp quốc doanh (và công tư hợp doanh) ở các tỉnh miền Nam thống nhất áp dụng các văn bản pháp quy sau đây:

– Nghị định số 43-CP ngày 16-9-1960 của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về lập kế hoạch, hạch toán giá thành và phí lưu thông hàng hóa;

– Thông tư số 186-TTg ngày 2-7-1971 của Thủ tướng Chính phủ quy định cách xử lý và hạch toán đối với một số khoản chi phí liên quan đến giá thành và phí lưu thông.

Điều 2. – Các xí nghiệp quốc doanh (và công tư hợp doanh) ở các tỉnh miền Nam được phép tính vào giá thành các khoản chi phí về bữa ăn giữa ca và chi phí tàu xe đưa, đón công nhân, viên chức đi và về như đã quy định trong chỉ thị số 1-TTg/B ngày 17-8-1976 của Thủ tướng Chính phủ.

Điều 3. – Các xí nghiệp quốc doanh (và công tư hợp doanh) ở các tỉnh miền Nam được hưởng khoản trợ cấp của ngân sách Nhà nước đối với người ăn tập thể và tính vào khoản chi ngoài giá thành theo quy định hiện hành.

Điều 4. – Bộ Tài chính có trách nhiệm hướng dẫn thi hành quyết định này.

Điều 5. – Quyết định này thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1978.

 

 

K.T. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
PHÓ THỦ TƯỚNG

Phạm Hùng

 

SOẠN HỢP ĐỒNG, ĐƠN, VĂN BẢN THEO YÊU CẦU CHỈ 500.000đ

--- Gọi ngay 1900.0191 ---

(Tư vấn Miễn phí - Hỗ trợ 24/7)

Công ty Luật LVN - Địa chỉ: Số 16B Nguyễn Thái Học, Yết Kiêu, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam

Gmail: luatlvn@gmail.com

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********

Số: 444-TTg

Hà Nội, ngày 06 tháng 12 năm 1977

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ ĐIỀU TRA CÔNG NHÂN, VIÊN CHỨC NHÀ NƯỚC TRONG CẢ NƯỚC VÀ LAO ĐỘNG XÃ HỘI Ở MIỀN NAM.

Để giúp trung ương Đảng và Chính phủ và các ngành, các cấp nắm được chính xác tình hình lực lượng lao động kỹ thuật, công nhân, viên chức Nhà nước thuộc phạm vi mình quản lý và tình hình phân bổ, sử dụng lực lượng lao động xã hội, Thủ tướng Chính phủ quyết định tiến hành cuộc điều tra lao động kỹ thuật, công nhân viên chức Nhà nước trong cả nước và lao động xã hội ở miền Nam.

Cuộc điều tra phải thu thập và tổng hợp được các số liệu nhằm làm căn cứ cho việc lập các kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, phân bố lại lao động, đào tạo lao động kỹ thuật; làm căn cứ cho việc nghiên cứu các chính sách, biện pháp tăng cường quản lý các lực lượng lao động.

1. Đối tượng và phạm vi điều tra:

a) Toàn thể công nhân, viên chức Nhà nước (kể cả công tư hợp doanh), bao gồm:

Lao động kỹ thuật, và lao động thường thuộc Nhà nước quản lý, kể cả những người đang công tác ở các nước ngoài.

Riêng đối với công nhân viên chức thuộc Bộ Nội vụ quản lý và những người có bằng cấp từ bậc trung học chuyên nghiệp trở lên và những người là công nhân kỹ thuật do Bộ Quốc phòng quản lý sẽ do Bộ Nội vụ và Bộ Quốc phòng điều tra và cung cấp những số liệu tổng hợp cần thiết cho Tổng cục Thống kê.

b) Toàn thể những người trong độ tuổi lao động, trên và dưới độ tuổi lao động đang thực tế tham gia lao động trong các hợp tác xã, xí nghiệp tư doanh và cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể ở miền Nam.

2. Nội dung yêu cầu điều tra lao động, kỹ thuật, công nhân, viên chức Nhà nước trong cả nước phải đạt được các chỉ tiêu tổng hợp sau đây:

– Tổng số công nhân, viên chức Nhà nước phân theo kết cấu nhân sự của đội ngũ, ngành kinh tế quốc dân và cơ quan quản lý (Bộ, Tổng cục, tỉnh, thành phố, sở, ty, huyện…)

– Tổng số người có bằng cấp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ từ bậc trung học chuyên nghiệp trở lên, phân theo kết cấu nhân sự cũa đội ngũ, các trình độ học và ngành học, ngành kinh tế quốc dân, cơ quan quản lý (Bộ, Tổng cục, tỉnh, thành phố, sở, ty, huyện…);

– Tổng số công nhân kỹ thuật phân theo kết cấu nhân sự của đội ngũ, ngành nghề kỹ thuật đang làm, bậc thợ, ngành kinh tế quốc dân, cơ quan quản lý (Bộ, Tổng cục, tỉnh, thành phố, sở, ty, huyện…).

3. Nội dung yêu cầu điều tra lao động xã hội ở miền Nam phải đạt được các chỉ tiêu tổng hợp sau đây :

– Lao động trong độ tuổi, trên và dưới độ tuổi, thực tế đang làm việc, phân theo kết cấu của đội ngũ, ngành kinh tế quốc dân;

– Lao động trong ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, phân theo kết cấu của đội ngũ, các ngành công nghiệp;

– Lao động trong các ngành nông, lâm nghiệp, hải sản phân theo kết cấu của đội ngũ, các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, hải sản;

– Lao động trong ngành vận tải phân theo kết cấu của đội ngũ, các ngành vận tải;

– Lao động trong ngành thương nghiệp, ăn uống phân theo kết cấu của đội ngũ, các ngành và các hình thức kinh doanh;

– Lao động dự trữ bao gồm nội trợ, đang đi học và chưa có việc làm;

– Những người tàn tật, mất sức lao động;

– Lao động của các xí nghiệp tư nhân và cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể.

4. Cuộc điều tra quy định thống nhất trong cả nước vào thời điểm 01 tháng 01 năm 1978 và hoàn thành công tác tổng hợp những chi tiêu cơ bản vào quý III năm 1978. Nếu làm sau ngày 01 tháng 01 năm 1978, cũng lấy thời điểm này để kê khai, đăng ký, tính toán.

5. Để hoàn thành tốt và đúng kỳ hạn cuộc điều tra, Thủ tướng Chính Phủ giao trách nhiệm như sau :

a) Đồng chí Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê phối hợp với đồng chí Bộ trưởng Bộ Lao động tổ chức công tác điều tra công nhân, viên chức Nhà nước trong cả nước và lao động xã hội ở miền Nam. Đồng chí Bộ trưởng Phủ thủ tướng phụ trách giúp Thủ tướng Chính Phủ theo dõi và lãnh đạo cuộc điều tra này.

b) Tổng cục Thống kê là cơ quan thường trực chỉ đạo điều tra, có trách nhiệm phối hợp với Bộ Lao động, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước. Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng, Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp, Ủy ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước. Ban tổ chức của Chính Phủ, tổ chức chỉ đạo thực hiện cuộc điều tra, lập và ban hành phương án điều tra, phiếu cá nhân, các biểu tổng hợp, Tổng cục Thống kê chịu trách nhiệm tổ chức tổng hợp số liệu điều tra. Các Bộ và Ủy ban nói trên tham gia chỉ đạo điều tra và cử cán bộ cộng tác với Tổng cục Thống kê tiến hành và hoàn thành các cuộc điều tra.

Tổng cục Thống kê lập kế hoạch dự trù kinh phí với Bộ Tài chính để bảo đảm kinh phí cho cuộc điều tra; lập kế hoạch dự trù in để Bộ Văn hóa có kế hoạch cung cấp giấy và in tài liệu cho cuộc điều tra.

c) Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm tổ chức chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thuộc địa phương và các cơ quan, đơn vị của trung ương quản lý đóng tại địa phương, tiến hành công tác điều tra công nhân, viên chức Nhà nước theo phương án đã quy định. Riêng đối với miền Nam, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố còn có trách nhiệm chỉ đạo các cấp tiến hành công tác điều tra lao động xã hội theo phương án đã quy định.

Mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cần cử ra một Ban chỉ đạo điều tra do đồng chí Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố làm trưởng ban để giúp Ủy ban nhân dân tổ chức chỉ đạo cuộc điều tra.

d) Mỗi Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan Đảng, đoàn thể trung ương (gọi tắt là Bộ, Tổng cục) cần chỉ đạo các đơn vị trực thuộc Bộ, Tổng cục đóng tại các địa phương chấp hành việc kê khai đăng ký công nhân, viên chức Nhà nước theo kế hoạch cụ thể của địa phương, nộp phiếu kê khai cho Ủy ban nhân dân địa phương tổng hợp, đồng thời tổ chức thực hiện cuộc điều tra này tại cơ quan Bộ, Tổng cục theo đúng phương án đã quy định, gửi báo cáo toàn bộ phiếu cá nhân của cơ quan cho Tổng cục Thống kê tổng hợp.

đ) Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị kinh tế, văn hóa có trách nhiệm tổ chức thực hiện và hoàn thành điều tra công nhân, viên chức Nhà nước thuộc phạm vi mình quản lý theo phương án đã quy định và gửi báo cáo đầy đủ phiếu các nhân cho Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố tổng hợp.

e) Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ lập phương án điều tra riêng kể cả phiếu đăng ký cá nhân và các loại biểu tổng hợp để tổ chức chỉ đạo thực hiện và hoàn thành cuộc điều tra công nhân, viên chức thuộc phạm vi Bộ quản lý. Trong việc này cần phối hợp với Tổng cục Thống kê để có tài liệu tổng hợp chung về lực lượng lao động kỹ thuật, công nhân viên chức Nhà nước trong cả nước. Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ sẽ có kế hoạch tiến hành điều tra và tổng hợp riêng trong toàn ngành, không theo kế hoạch chung của các tỉnh, thành phố. Sau khi hoàn thành cuộc điều tra sẽ gửi kết quả tổng hợp cho Tổng cục Thống kê.

Sau cuộc điều tra lần này, các Bộ, Tổng cục, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các cơ quan, đơn vị kinh tế, văn hóa cần tổ chức theo dõi sự biến động thường xuyên của lực lượng lao động khoa học, kỹ thuật, công nhân, viên chức Nhà nước và lao động xã hội nhằm tăng cường công tác quản lý, tạo điều kiện chấp hành đầy đủ các chế độ báo cáo lao động của Nhà nước.

Các Bộ, Tổng cục và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố cần nghiên cứu kỹ và tổ chức thi hành đầy đủ chỉ thị này, đảm bảo cho cuộc điều tra được hoàn thành đúng yêu cầu, đúng thời hạn.

 

 

K.T. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
PHÓ THỦ TƯỚNG

Phạm Hùng

 

SOẠN HỢP ĐỒNG, ĐƠN, VĂN BẢN THEO YÊU CẦU CHỈ 500.000đ

--- Gọi ngay 1900.0191 ---

(Tư vấn Miễn phí - Hỗ trợ 24/7)

Công ty Luật LVN - Địa chỉ: Số 16B Nguyễn Thái Học, Yết Kiêu, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam

Gmail: luatlvn@gmail.com

 HỘI
ĐỒNG CHÍNH PHỦ
******

CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
*********

Số
: 289-CP


Nội, ngày 29 tháng 10  năm 1977

 

NGHỊ QUYẾT

VỀ CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ NHẰM TRIỂN KHAI
VIỆC TỔ CHỨC VÀ CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ LẦN THỨ HAI CỦA BAN CHẤP
HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG.

Hội đồng Chính phủ trong phiên
họp cuối tháng 9 và đầu tháng 10 năm 1977 đã thảo luận và quyết định những việc
chính phải làm nhằm quán triệt của Hội nghị lần thứ hai của Ban chấp hành trung
ương Đảng vào việc xây dựng kế hoạch Nhà nước 5 năm (1976-1980) và kế hoạch Nhà
nước năm 1978, cũng như trong việc chỉ đạo thực hiện các kế hoạch đó. Đây là những
việc mở đầu cho cả quá trình thực hiện nghị quyết của trung ương, giải quyết những
vấn đề cấp bách nhằm tạo ra những điều kiện cơ bản để thúc đẩy sản xuất nông
nghiệp, trước hết là sản xuất lương thực, đồng thời tạo ra thế chủ động cho các
năm sau, góp phần xây dựng nề nếp quản lý tốt. Những việc đó phải được chỉ đạo
với tinh thần tập trung và khẩn trương nhất ngay từ IV năm 1977 và 6 tháng đầu
năm 1978. Cuối quý II năm 1978, trên cơ sở kiểm điểm việc thực hiện nghị quyết
này, Hội đồng Chính phủ sẽ quyết định chương trình hành động tiếp theo, đi sâu
hơn vào những nhiệm vụ lớn mà nghị quyết này mới đề cập một phần, như quản lý
kinh tế nông nghiệp, quản lý khoa học và kỹ thuật nông nghiệp, quan hệ sản xuất
trong nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, con người mới, v.v… Riêng về hải sản,
Thường vụ Hội đồng Chính phủ sẽ có kế hoạch làm việc chuyên đề.

Để tập trung
cao độ lực lượng cả nước thực hiện bằng được các mục tiêu phát triển nông nghiệp
mà nghị quyết của Đại hội lần thứ IV của Đảng và nghị quyết của Hội nghị lần thứ
hai của Ban chấp hành trung ương Đảng đã đề ra, Hội đồng Chính phủ đòi hỏi các
ngành, các cấp có sự chuyển biến cách mạng trên mọi lĩnh vực công tác của mình
nhằm chỉ đạo và phục vụ tốt nhất cho sản xuất nông nghiệp. Các ngành, các cấp
phải quán triệt mấy quan điểm lớn sau đây :

a) Tư tưởng
chiến lược của kế hoạch 5 năm mà Đại hội lần thứ IV của Đảng đã đề ra là phải tận
dụng và phát huy đến mức cao nhất tiềm lực sẵn có của đất nước ta, trước hết là
tiềm lực rất to lớn về lao động và đất đai. Để làm việc đó, phải có quy hoạch
và kế hoạch phân bố lại lực lượng sản xuất, tổ chức lại sản xuất trên địa bàn cả
nước theo hướng tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa; đồng thời, phải gắn liền
phát triển lực lượng sản xuất với cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam (cả về
nông nghiệp, công thương nghiệp tư doanh) và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội
chủ nghĩa ở miền Bắc.

Tư tưởng chiến
lược đó phải được quán triệt trong mọi lĩnh vực, trước hết là trong nông nghiệp,
lâm nghiệp, ngư nghiệp, vì ở đây tiềm lực về lao động và đất đai là vốn to lớn
nhất, quý nhất, nhưng hiện nay phân bố không hợp lý. Giải quyết tốt vấn đề này
sẽ tạo ra những điều kiện cơ bản để giải quyết nhiều vấn đề quan trọng khác.

Đây chính là
con đường để đồng thời tiến hành ba cuộc cách mạng, thực hiện công nghiệp hóa
xã hội chủ nghĩa, kết hợp kinh tế và quốc phòng, xây dựng đất nước giàu mạnh.

b) Theo
phương châm đã được xác định qua Đại hội lần thứ IV của Đảng: Đảng lãnh đạo,
nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý, Hội đồng Chính phủ cũng như các ngành, các
cấp phải thấy rõ trách nhiệm rất lớn của mình trong việc quản lý nền nông nghiệp
và đưa nền nông nghiệp phát triển theo đường lối của Đảng. Từ nhận thức đó,
trong phiên họp này, Hội đồng Chính phủ bàn kỹ vấn đề tổ chức thực hiện nghị
quyết 2, chính là để thực hiện trách nhiệm to lớn của mình. Trong những phiên họp
sau, Hội đồng Chính phủ sẽ bàn tiếp những vấn đề cụ thể để từng bước triển khai
khẩn trương và vững chắc việc thực hiện nghị quyết 2 của Ban chấp hành trung
ương Đảng (khi bàn về kế hoạch Nhà nước, Hội đồng Chính phủ cũng cần bàn kỹ và
sâu thêm về nông nghiệp, bởi lẽ nông nghiệp là trung tâm của kế hoạch Nhà nước
trong thời gian trước mắt của nước ta).

c) Nghị quyết
của Đại hội lần thứ IV của Đảng và nghị quyết Hội nghị lần thứ hai của Ban chấp
hành trung ương Đảng đề ra những mục tiêu rất to lớn của sự nghiệp xây dựng xã
hội chủ nghĩa ở nước ta. Việc tổ chức thực hiện những nghị quyết ấy trong tình
hình chúng ta đang có những khó khăn trong nền kinh tế hiện nay, nhất là khó
khăn về lương thực, vật tư, nguyên vật liệu, nhiên liệu; trong điều kiện thời
gian (thời vụ nông nghiệp) còn lại không nhiều; trong khi bộ máy quản lý Nhà nước
đang sắp xếp lại, tổ chức ở địa phương – nhất là cấp huyện – còn yếu (nhất là ở
các địa phương ở miền Nam nước ta)… đòi hỏi sự nổ lực vượt bậc của các ngành,
các cấp cho đến cơ sở, đòi hỏi chúng ta phải hết sức đề cao tinh thần tự lực
cánh sinh, khắc phục khó khăn, sử dụng có hiệu quả nhất tiềm lực hiện có về sức
lao động, thiết bị, phương tiện, vật tư.

Hội đồng
Chính phủ phải chỉ đạo rất tập trung và kiên quyết, huy động toàn bộ lực lượng
có thể huy động được, tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả nền kinh tế quốc dân, của
bộ máy Nhà nước đi đôi với phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động,
tạo nên những bước tiến vượt bậc trong nông nghiệp, quyết đạt và vượt các mục
tiêu do Đại hội Đảng đã đề ra, Hội đồng Chính phủ yêu cầu các thành viên của Hội
đồng Chính phủ, các thủ trưởng các ngành trực thuộc Hội đồng Chính phủ, các Chủ
tịch Ủy ban nhân dân các cấp làm tốt những công việc rất quan trọng sau đây :

I. PHÂN
VÙNG, QUY HOẠCH VÀ KẾ HOẠCH

1. Công
tác phân vùng và quy hoạch
của ta lúc này nhằm thực hiện một bước cơ bản việc
xây dựng phương án phân vùng nông nghiệp, lâm nghiệp và công nghiệp chế biến
(bước đầu có tính toán cân đối với các ngành công nghiệp lớn, với nhu cầu của
các trung tâm công nghiệp…) và phát thảo sự phân bố các ngành công nghiệp lớn.

Quy hoạch các
ngành và công tác phân vùng, quy hoạch các vùng gắn với nhau một cách hữu cơ:
quy hoạch của mỗi ngành cần được thể hiện trên các vùng, các tiểu vùng cả nước,
và phần quy hoạch của mỗi vùng là một bộ phận hợp thành của quy hoạch toàn
ngành. Đây là công tác to lớn, phức tạp đòi hỏi sự tham gia tích cực và chủ động
của tất cả các ngành kinh tế và văn hóa, nội chính và xã hội, đòi hỏi sự tham
gia thiết thực và với tinh thần trách nhiệm rất cao của các cấp chính quyền địa
phương nhằm xây dựng cho được phương án phân vùng trên phạm vi cả nước trong từng
tỉnh.

Trước mắt,
để phục vụ và thúc đẩy phát triển nông nghiệp, các tỉnh, thành phố phải khẩn
trương làm ngay một bước việc quy hoạch huyện.
Phải căn cứ trên phương án
phân vùng sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp chế biến nông sản, lâm
sản và những dự kiến về phân bố các ngành công nghiệp lớn trong những năm trước
mắt ở huyện, mà bố trí trên địa bàn huyện những cơ sở vật chất kỹ thuật, hệ thống
trạm, trại của nông nghiệp, lâm nghiệp và các ngành phục vụ nông nghiệp, lâm
nghiệp (chủ yếu là thủy lợi, giao thông vận tải, cơ khí, điện xây dựng v.v… ) đồng
thời quy hoạch những khu dân cư gắn với các cơ sở sản xuất sẽ xây dựng trên địa
bàn huyện.

Để tiến hành
một cách cụ thể việc phân vùng và quy hoạch, cần tập trung cán bộ của các ngành
kinh tế, nhất là cán bộ nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi, xây dựng, giao thông
vận tải, cơ khí v.v… giúp các tỉnh, các huyện thiết kế các nông trường, lâm trường,
các vùng kinh tế mới.

Muốn làm phân
vùng được tốt, phải quán triệt đường lối của Đảng, xử lý tổng hợp các tài liệu
điều tra cơ bản và các kết luận về khoa học – kỹ thuật, hiểu biết thực tiễn của
sản xuất và yêu cầu trước mắt và lâu dài của nền kinh tế quốc dân. Hiện nay,
tài liệu điều tra cơ bản của ta có những mặt còn bị hạn chế mà ta phải tiếp tục
bổ sung. Trên cơ sở tài liệu điều tra cơ bản được bổ sung, chúng ta sẽ điều chỉnh
từng bước việc phân vùng ngày càng hợp lý. Điều đặc biệt quan trọng là phải
tính toán và chỉ ra các bước cụ thể, thiết thực để vừa thực hiện được phương án
phân vùng, vừa đáp ứng ngay các nhu cầu bức thiết của nền kinh tế quốc dân, trước
hết là lương thực và các loại nông sản xuất khẩu, phù hợp với các điều kiện lao
động, vốn, thiết bị, vật tư hiện có và sẽ có trong từng thời kỳ kế hoạch 5 năm.
Khi đã vạch được bước đi cho từng vùng, phải thể hiện các bước đi đó bằng các
chỉ tiêu cụ thể trong kế hoạch 5 năm về kế hoạch hàng năm, phải ban hành các
chính sách và đề ra các biện pháp nhằm bảo đảm việc xây dựng các vùng đó thành
hiện thực.

Để xúc tiến
công tác phân vùng và quy hoạch theo tinh thần nói trên. Hội đồng Chính phủ quyết
định:

a) Bắt đầu từ
tháng 10 năm 1977, Hội đồng Chính phủ xét duyệt và ban hành phương án phân vùng
chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và công nghiệp chế
biến nông sản, lâm sản, hải sản của cả nước và của từng tỉnh (có tính đến phục
vụ và cân đối với các ngành công nghiệp, các khu công nghiệp, v.v… ) công tác
này phải hoàn thành trong năm 1977. Trong thời gian đó sẽ đồng thời tiến hành
việc lập quy hoạch các huyện trọng điểm.

b) Trên cơ sở
phân vùng chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và công
nghiệp chế biến nông sản, lâm sản, hải sản của cả nước và của từng tỉnh, Ủy ban
phân vùng kinh tế của Hội đồng Chính phủ phối hợp với các ngành chỉ đạo các tỉnh,
thành phố và các huyện khẩn trương và có trọng điểm làm quy hoạch huyện, chủ yếu
là quy hoạch nông-lâm nghiệp hoặc ngư nghiệp (có tính đến công nghiệp và các
ngành khác, đồng thời tính đến việc xây dựng nông thôn mới, đến sự phát triển
văn hóa giáo dục, xã hội của huyện).

Ở các tỉnh miền
Bắc, phải làm xong một bước cơ bản quy hoạch của tất cả huyện vào giữa năm
1978.

Ở các tỉnh miền
Nam, phải làm xong một bước cơ bản quy hoạch của các huyện thuộc vùng đất thuộc
ở đồng bằng và các huyện trọng điểm thuộc vùng kinh tế mới vào giữa năm 1978;
hoàn thành quy hoạch của tất cả các huyện ở miền Nam trong năm 1978.

Trong khi quy
hoạch huyện chưa được duyệt, các tỉnh và các huyện có thể căn cứ vào phương án
phân vùng nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và công nghiệp chế biến của cả nước
và của từng tỉnh đã được Chính phủ xét duyệt mà bố trí lực lượng sản xuất.

c) Ủy ban phân vùng kinh tế của
Hội đồng Chính phủ chỉ đạo các ngành, các địa phương xây dựng quy hoạch ngành,
quy hoạch các vùng kinh tế; trên cơ sở đó xây dựng phương án phân vùng kinh tế
của cả nước trình Hội đồng Chính phủ xét vào cuối năm 1979.

d) Căn cứ vào kiến nghị của Ban
chỉ đạo phân vùng nông nghiệp, lâm nghiệp trung ương, trong quý IV năm 1977 của
Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Ủy ban Kế hoạch Nhà nước phải vạch ra kế hoạch và
bước đi của các vùng nông nghiệp trọng điểm và trình Thường vụ Hội đồng Chính
phủ xét duyệt. Các kế hoạch và bước đi này phải nhằm giải quyết các yêu cầu cấp
bách về lương thực, thực phẩm, nông sản xuất khẩu, nguyên liệu cho công nghiệp.

2. Cải tiến công tác kế hoạch
theo tinh thần mới.

Toàn bộ nội dung nghị quyết Hội
nghị lần thứ hai của Ban chấp hành trung ương Đảng phải được thể hiện cụ thể và
đồng bộ trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân 5
năm 1976-1980 và kế hoạch năm 1978 của Nhà nước cũng như của từng ngành, từng địa
phương.

Để xây dựng tốt kế hoạch 5 năm
1976-1980 và kế hoạch năm 1978, Hội đồng Chính phủ yêu cầu các ngành, các cấp
quán triệt phương châm tự lực cánh sinh, cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội,
phát huy cao độ tính chủ động, sáng tạo, sớm khai thác và sử dụng tốt mọi khả
năng tiềm tàng của đất nước, trước hết là tiềm lực về lao động và đất đai, rừng,
biển, sử dụng cao nhất công suất các xí nghiệp, các phương tiện, thiết bị sử dụng
tốt nhất và tiết kiệm nhấ nguồn vốn và vật tư hiện có. Cần khắc phục các khuynh
hướng chờ đợi, ỷ lại vào máy móc hoặc vào giúp đỡ của nước ngoài, kiên quyết sửa
đổi cách suy nghĩ và phương pháp lập kế hoạch của các ngành, các cấp, các đơn vị
cơ sở. Phải thực hiện một bước chuyển hướng mới trong công tác kế hoạch hóa
thích ứng với nhiệm vụ mới và hoàn cảnh của nước ta. Phải tập trung những
phương tiện có thể để sử dụng tốt nhất sức lao động dồi dào và tài nguyên phong
phú chưa được khai thác nhằm tạo ra giá trị sử dụng mới, tạo ra sản phẩm nhiều
để thỏa mãn nhu cầu của đời sống nhân dân. Đó là hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất.
Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, phải nhằm hiệu quả kinh tế của toàn xã hội; hiệu
quả kinh tế của từng đơn vị là rất quan trọng, nhưng không thể cục bộ chỉ tính
đến hiệu quả kinh tế nhỏ hẹp của từng ngành, từng vùng, từng xí nghiệp.

Hội đồng Chính
phủ đòi hỏi các ngành và các cấp đặt vấn đề cân đối sử dụng sức lao động và đất
đai vào vị trí trung tâm trong toàn bộ hệ thống cân đối của kế hoạch. Mọi
phương án phát triển và mọi mặt cân đối của kế hoạch  Nhà nước của các
ngành và của địa phương đều phải xoay quanh trung tâm cân đối này, đều phải nhằm
giải quyết cân đối sử dụng sức lao động và đất đai, rừng, biển trong phạm vi cả
nước.

Nhà nước tạo
mọi điều kiện cho người lao động có đủ công việc làm và làm việc thuận lợi, tìm
mọi cách cải thiện đời sống của nhân dân, đồng thời Nhà nước đòi hỏi mỗi người
lao động trong nông nghiệp cũng như trong tất cả các ngành khác phải làm việc
có năng suất cao.

Trên đây là
tưởng chủ đạo, là phương hướng chủ yếu
phải quán triệt trong việc xây dựng
kế hoạch Nhà nước năm 1978 và kế hoạch Nhà nước năm 5 năm (1976-1980).

Riêng đối với
việc xây dựng kế hoạch nông nghiệp, Hội đồng Chính phủ yêu cầu các ngành, các cấp,
các đơn vị cơ sở quán triệt sâu sắc các phương hướng sau đây:

a) Phải sử dụng
tốt nhất sức lao động và đất đai là hai yếu tố cơ bản nhất trong sản xuất nông
nghiệp, đồng thời là hai tiềm lực to lớn nhất, quan trọng nhất cần khai thác
nhanh để mau vượt qua tình trạng khó khăn về lương thực và tình trạng mất cân đối
trên nhiều mặt của nền kinh tế quốc dân vừa ra khỏi cuộc chiến tranh lâu dài và
ác liệt.

Ở toàn bộ
nông thôn nước ta, cũng như ở khắp nơi ở nước ta, mọi người phải làm việc, phải
lao động sản xuất, trực tiếp hay gián tiếp, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp. Đó
là nghĩa vụ và lợi ích của mọi người. Các cấp có thẩm quyền (nhất là cấp huyện)
phải có kế hoạch huy động toàn bộ lực lượng lao động có thể huy động được để sử
dụng một cách hợp lý vào sản xuất, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, làm cho
năng suất lao động xã hội từ đó mà tăng lên một cách đáng kể. Phải kết hợp chặt
chẽ việc đề cao kỷ luật với khuyến khích vật chất và động viên chính trị để thực
hiện các định mức lao động ngàt càng tiên tiến. Nói chung, mỗi người phải làm
việc 8 giờ một ngày cho tập thể (hoặc Nhà nước, ngoài ra phải làm thêm cho phúc
lợi xã hội và kinh tế phụ gia đình. Trong nông nghiệp, một người lao động – nói
chung – phải làm một hecta đất nông nghiệp; trong từng ngành, từng địa phương
và cơ sở cần xác định các định mức này một cách vững chắc, và lấy đó làm căn cứ
để tính toán các chỉ tiêu của kế hoạch.

Để sử dụng tốt
lao động và đất đai, nhanh chóng giải quyết được vấn đề lương thực, phải dành
ưu tiên cho việc xây dựng thủy lợi nhằm cung ứng nước cho trồng trọt ở tất cả
các vùng và cho sinh hoạt ở các vùng kinh tế mới.

b) Một trong
các nhiệm vụ phải thực hiện cho được là bảo đảm cân đối lương thực và thực phẩm
đủ để duy trì và bồi dưỡng sức khỏe của nhân dân, đáp ứng nhu cầu của việc phân
bố lại lực lượng lao động (khai hoang và mở rộng các ngành nghề khác), nhu cầu
về thủy lợi, trồng rừng, trồng cây công nghiệp và xuất khẩu. Lương thực vừa là
mục tiêu, vừa là một điều kiện để thực hiện kế hoạch.

Muốn thế, đi
đôi với việc tích cực thâm canh lúa và làm thủy lợi để mở rộng diện tích ruộng
lúa và tăng vụ lúa ở những nơi có điều kiện, phải đẩy mạnh đến mức cao nhất việc
sản xuất các loại hoa màu, đồng thời phải phát triển sản xuất mạnh mẽ các nông
sản, lâm sản, hải sản làm nguyên liệu cho công nghiệp và cho xuất khẩu. Từng tỉnh,
từng huyện phải tập trung sản xuất lương thực, thực phẩm đến mức cao nhất, đồng
thời phát huy hết ưu thế của mình, làm tốt các nhiệm vụ khác của kế hoạch Nhà
nước. Trong khi xây dựng kế hoạch phát triển nông nghiệp, cấp huyện phải giải
quyết cho được lương thực cho nhân dân trong huyện đồng thời làm nghĩa vụ lương
thực đối với Nhà nước (trừ những huyện chuyên canh cây công nghiệp hoặc có quá
đông nhân khẩu phi nông nghiệp). Huyện nào chưa làm tốt lương thực phải noi
gương các huyện đã làm tốt, phấn đấu làm cho kỳ được. Trong trường hợp đặc biệt,
huyện nào chưa cân đối được lương thực, thì phải có kế hoạch đẩy mạnh sản xuất ở
những huyện có điều kiện phát triển lương thực để điều hòa giữa các huyện, bảo
đảm lương thực trong tỉnh mình.

c) Trong nông
nghiệp cũng như trong các ngành khác, việc xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch phải
dựa trên các định mức kinh tế – kỹ thuật đúng đắn, tiến bộ, nhất là định mức về
năng suất lao động, về sử dụng thiết bị, vật tư, …

Kế hoạch tốt
phải được xây dựng trên cơ sở quản lý tốt, và chỉ có thể quản lý tốt trên cơ sở
kế hoạch tốt. Các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi, phải soát lại các
cân đối, các yêu cầu của ngành mình cho phù hợp với khả năng kinh tế của cả nước;
phải quán triệt quan điểm tiết kiệm triệt để ngoại tệ, vật tư, thiết bị, tiền vốn…
và sử dụng các yếu tố đó với hiệu quả cao nhất. Các ngành, các cấp, các đơn vị
cơ sở mỗi khi đề ra yêu cầu đầu tư thiết bị, vật tư, tiền vốn đều phải tính
toán cụ thể hiệu quả các mặt của việc đầu tư đó.

d) Bộ trưởng
Bộ Nông nghiệp, các Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, huyện có
trách nhiệm chủ trì việc làm kế hoạch nông nghiệp.

Đi đôi với kế
hoạch dài hạn và kế hoạch hàng năm về phát triển sản xuất nông nghiệp, ở mỗi cấp
từ cơ sở đến trung ương đều phải có kế hoạch phát triển khoa học – kỹ thuật và
thực hiện tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp.

Bộ Nông nghiệp
chủ động cần bàn với các ngành có liên qua đến sản xuất nông nghiệp (nhất là
các ngành cung ứng kỹ thuật và các ngành tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp) xây dựng
các chỉ tiêu kế hoạch có tính chất liên ngành được vững chắc, thiết thực.

Để xây dựng kế
hoạch nông nghiệp tốt, Bộ Nông nghiệp phải cùng với Ủy ban nhân dân các tỉnh,
thành phố tăng cường bộ môn làm kế hoạch ở các Ty, Sở nông nghiệp và cơ quan
nông nghiệp huyện, chỉ đạo chặt chẽ các cơ quan này trong việc xây dựng kế hoạch,
bảo đảm kế hoạch được xây dựng từ cơ sở lên.

Theo đường lối,
chủ trương phát triển nông nghiệp của Đảng và Chính phủ, mỗi ngành mỗi Ủy ban
nhân dân tỉnh, thành phố cần sớm bổ sung các dự án kế hoạch năm 1978 và kế hoạch
5 năm 1976-1980 của mình nộp lên Ủy ban Kế hoạch Nhà nước tổng hợp vào cuối
tháng 10 năm 1977.

Trong quá
trình xây dựng và tổng hợp kế hoạch, Thường vụ Hội đồng Chính phủ trực tiếp
nghe và chỉ đạo một số ngành trọng điểm: nông nghiệp, thủy lợi, lâm nghiệp, cơ
khí, điện, than, hóa chất, giao thông vận tải, v.v…

II. MỘT SỐ
CHỦ TRƯƠNG, BIỆN PHÁP QUAN TRỌNG ĐỂ THÚC ĐẨY SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

1. Tổ chức sản xuất trên địa bàn huyện, tăng cường cấp huyện
và cấp tỉnh để chỉ đạo và phục vụ tốt sản xuất nông nghiệp.

Nghị quyết Đại
hội lần thứ IV của Đảng khẳng định: “Nhà nước ta quản lý nền kinh tế quốc dân
theo nguyên tắc tập trung dân chủ và nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với
quản lý theo địa phương và theo vùng lãnh thổ”.

Xuất phát từ
nguyên tắc đó, Hội đồng Chính phủ đã ban hành nghị định số 172-CP (quy định Điều
lệ về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Chính phủ và nhiệm vụ, quyền hạn, trách
nhiệm của Bộ trong lĩnh vực quản lý kinh tế) và nghị định số 24-CP (quy định
nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, của chính quyền Nhà nước cấp tỉnh trong lĩnh
vực quản lý kinh tế)

Trong tháng
11 năm 1977, Hội đồng Chính phủ sẽ ban hành các quy định về xây dựng cấp huyện.

Những văn kiện
này là một tổng thể hợp thành hệ thống tổ chức bộ máy quản lý kinh tế của ta,
làm cho ngành và cấp, cấp trên, cấp dưới khớp vào nhau, điều hòa phối hợp với
nhau, quy tụ vào đầu mối chỉ đạo thống nhất và đồng bộ của Hội đồng Chính phủ.

Phải tổ chức
lại sản xuất trên địa bàn huyện và tăng cường cấp huyện, cấp trực tiếp quản lý
nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, một cấp Nhà nước quản lý kế hoạch toàn
diện và có ngân sách, một cấp quản lý sản xuất, quản lý lưu thông và đời sống
nhân dân ở trong huyện.

Trong quý IV
năm nay, Ban nghiên cứu quản lý kinh tế trình Thường vụ Hội đồng Chính phủ kế
hoạch về các bước đi cụ thể trong việc tổ chức lại sản xuất ở huyện và tăng cường
cấp huyện.

Tháng 11 năm
1977 Bộ Tài chính Thừơng vụ Hội đồng Chính phủ vấn đề phân cấp quản lý tài
chính cho cấp huyện, trong đó quy định cụ thể về ngân sách huyện để kịp vận dụng
vào việc xây dựng kế hoạch và ngân sách năm 1978.

2. Khẩn trương xây dựng kết cấu hạ tầng ở các huyện thuộc
vùng kinh tế mới,
nhất là xây dựng các
công trình thủy lợi cho sản xuất, cho sinh hoạt, các đường giao thông.

Bộ Nông nghiệp,
Bộ Thủy lợi, Bộ Xây dựng cùng với các tỉnh có vùng kinh tế mới xác định các điểm
dân cư, xác định quy hoạch và kế hoạch xây dựng thủy lợi cho sinh hoạt, cho sản
xuất ở các vùng này và chỉ đạo thực hiện các quy hoạch và kế hoạch ấy khớp với
kế hoạch đưa lao động đến và kế hoạch sản xuất nông nghiệp.

Bộ Nông nghiệp
cùng với Bộ Giao thông vận tải, với từng tỉnh có vùng kinh tế mới xác định các
trục đường cần làm thêm và có kế hoạch thi công sớm, kịp phục vụ việc đưa lao động
đến khai thác đất đai theo kế hoạch Nhà nước đã duyệt.

Bộ Thủy lợi
và Bộ Giao thông vận tải chỉ đạo chặt chẽ việc kết hợp giữa thủy lợi và giao
thông vận tải; cùng các địa phương có liên quan xây dựng đề án để trình Thường
vụ Hội đồng Chính phủ trong tháng 12 năm 1978.

3. Tổ chức lại sản xuất và quản lý ở đơn vị cơ sở      

a) Ở các tỉnh
miền Bắc,
phải đẩy mạnh việc thực hiện nghị quyết số 61-CP của Hội đồng
Chính phủ về tổ chức lại sản xuất, cải tiến một bước quản lý nông nghiệp, lâm
nghiệp từ cơ sở theo hướng tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.

Bộ Nông nghiệp
cùng Ban Nông nghiệp trung ương nghiên cứu hoàn chỉnh Điều lệ hợp tác xã nông
nghiệp, đồng thời chuẩn bị đế án phân cấp quản lý các nông trường, để quý I năm
1978 trình Thường vụ Hội đồng Chính phủ.

Cần xúc tiến
dự thảo Điều liệu hợp tác xã nông, lâm nghiệp để trình Hội đồng Chính phủ vào
quý I năm 1978. Để làm việc này, thành lập một Tiểu ban gồm Bộ Nông nghiệp, Bộ
Lâm nghiệp, Ban Nông nghiệp trung ương, Ban nghiên cứu quản lý kinh tế…

b) Ở các tỉnh
và thành phố miền Nam,
phải chỉ đạo chặt chẽ và phối hợp tốt việc tổ chức lại
sản xuất nông nghiệp, xây dựng cấp huyện với việc cải tạo nông nghiệp và cải tạo
công thương nghiệp tư doanh. Ban cải tạo nông nghiệp miền Nam trình Ban bí thư
và thường vụ Hội đồng Chính phủ một chương trình cụ thể về vấn đề này vào tháng
12 năm 1977.

c) Đối với
kinh tế mới
    

Bộ Nông nghiệp,
Bộ Lâm nghiệp trình Thủ tướng Chính phủ duyệt danh mục các nông trường, lâm trường,
các khu vực sẽ nhận lao động của các hợp tác xã đến khai hoang. Căn cứ vào sự bố
trí ấy cần sớm chỉ định cán bộ phụ trách các nông trường, lâm trường, giao nhiệm
vụ điều tra, thiết kế cụ thể cho từng đơn vị.

Bộ Lâm nghiệp
phối hợp với Bộ Nông nghiệp, Ủy ban dân tộc của Chính phủ chỉ đạo các tỉnh làm
tốt công tác định canh, định cư, kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ này với nhiệm vụ xây
dựng các hợp tác xã, các nông trường, lâm trường quốc doanh, phấn đấu hoàn
thành về cơ bản vào năm 1980 việc định canh, định cư đồng bào các vùng núi.

Trong việc
xây dựng các vùng kinh tế mới, các cơ quan chủ quản các đơn vị sản xuất phải phối
hợp với địa phương và các ngành có liên quan xây dựng các làng mới, các thị trấn
mới theo quy hoạch chung, sớm đưa sinh hoạt của các điểm dân cư này đi vào nề nếp,
quy củ.

Bộ Nông nghiệp
(hoặc Bộ Lâm nghiệp) cùng với tỉnh sở tại và Tổng cục Xây dựng kinh tế (Bộ quốc
phòng) phải làm xong việc vạch ranh giới cho từng nông trường (hoặc lâm trường)
do quân đội quản lý trong năm 1977.

4. Xây dựng mạng lưới cơ sở vật chất kỹ thuật cho nông nghiệp.

Căn cứ kế hoạch
phát triển nông nghiệp trong 5 năm 1976-1980 các ngành phải có kế hoạch phục vụ
việc xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật cho nông nghiệp, trong đó có phân biệt
những vấn đề lớn cần trình Hội đồng Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ. Sau đây
là một vấn đề chính cần giải quyết sớm:

a) Thủy lợi

Công tác thủy
lợi phải đi trước một bước, tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển mạnh mẽ và
vững chắc. Nhiệm vụ của công tác thủy lợi trong 3 năm tới (1978-1980) là bảo đảm
các mục tiêu chủ yếu sau đây:

– Tưới cho
lúa, từ 1 triệu 45 vạn ha lên 2 triệu 60 vạn ha (tăng 1 triệu 15 vạn ha), trong
đó ở miền Bắc 1,090 triệu ha, ở miền Nam 1,510 triệu ha;

– Tưới cho
hoa màu và cây công nghiệp 63,5 vạn ha;

– Diện tích
tiêu úng, tăng thêm 27 vạn ha ở miền Bắc.

Để thực hiện
các mục tiêu ấy, phải tập trung sức xây dựng thủy lợi trong 3 mùa khô tới. Nhiệm
vụ này đòi hỏi phải tăng cường chỉ đạo rất chặt chẽ và tập trung của Thường vụ
Hội đồng Chính phủ và của chính quyền các cấp, phải huy động tiềm lực của các
ngành, các địa phương, của Nhà nước và của nhân dân. Phải ưu tiên giải quyết
các nhu cầu về thiết bị, vật tư kỹ thuật, điện, giao thông vận tải và lao động
cho công tác này. Bộ Thủy lợi phải bảo đảm kỹ thuật và hiệu quả của các công
trình, đồng thời tăng cường quản lý tốt lao động, thiết bị và vật tư để bảo đảm
thời gian hoàn thành các công trình theo kế hoạch.

Phó thủ tướng
Võ Chí Công sẽ họp các ngành có liên qian giải quyết vấn đề nói trên.

b) Cơ khí

Phải huy động
năng lực cơ khí của tất cả các ngành (kể cả Bộ Quốc phòng) phục vụ cho sản xuất
nông nghiệp và thủy lợi. Bộ Cơ khí và luyện kim có nhiệm vụ chủ trì phối hợp
các ngành, các địa phương có sản xuất cơ khí (kể cả cơ khí quốc phòng) xây dựng
kế hoạch cụ thể của toàn ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp. Kế hoạch này cần
trình Thường vụ Hội đồng Chính phủ vào đầu năm 1978.

Bộ Cơ khí và
luyện kim chủ trì bàn với Bộ Nông nghiệp, Bộ Giao thông vận tải và các ngành,
các địa phương có liên quan xây dựng đề án tổ chức mạng lưới xí nghiệp sửa chữa
các loại máy kéo, xe vận tải… trình Thường vụ Hội đồng Chính phủ vào quý I năm
1978; trước mắt, phải chú ý đầy đủ những vùng nông nghiệp có tốc độ cơ giới hóa
nhanh. Quy hoạch mạng lưới sửa chữa cơ giới dùng cho nông nghiệp phải kết hợp với
yêu cầu sửa chữa cơ giới dùng trong các ngành khác.

Trong tháng
11 năm 1977, Bộ Nông nghiệp và Bộ Cơ khí và luyện kim phải lập kế hoạch về nhu
cầu và khả năng sản xuất phụ tùng trong nước.

Đối với những
thứ có thể sản xuất ở trong nước. Bộ Cơ khí và luyện kim cố gắng bảo đảm sản xuất.
Đối với thứ không thể sản xuất trong nước, Bộ Ngoại thương có kế hoạch nhập khẩu;
Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước cần ưu tiên dành ngoại tệ cho việc nhập khẩu các loại
phụ tùng này.

 Đối với
các loại máy móc, thiết bị nông nghiệp đang sử dụng ở Miền Nam do các nước tư bản
sản xuất, Bộ Ngoại thương cần tìm nhiều biện pháp để nhập phụ tùng, coi đó là một
nhiệm vụ quan trọng. Bộ Nông nghiệp và các địa phương phải quản lý hết sức chặt
chẽ việc phân phối và sử dụng số phụ tùng này. Bộ Cơ khí và luyện kim kết hợp với
Bộ Nông nghiệp, Bộ Lâm nghiệp và các địa phương giải quyết nhanh  yêu cầu
công cụ cầm tay cho nông nghiệp.

Phó thủ tướng
Võ Chí Công chỉ đạo các Bộ Nông nghiệp, Bộ Cơ khí và luyện kim, Bộ Ngoại thương
và Ủy ban kế hoạch Nhà nước làm đề án về vấn đề nói trên trình Thường vụ Hội đồng
Chính phủ vào tháng 12 năm 1977.

c) Hệ thống
giống cây trồng và con chăn nuôi.

Bộ Nông nghiệp
hoàn chỉnh đề án tổ chức các hệ thống giống (cây trồng gia súc) trình Thường vụ
Hội đồng Chính phủ vào quý I năm 1978. Phải khẩn trương tổ chức mạng lưới này
trong năm 1978 ở các tỉnh đồng bằng, trung du Bắc Bộ, các tỉnh có vùng đất thuộc
lớn ở miền Nam (đối với các tỉnh miền núi thì phải tổ chức xong trong năm
1979).

Bắt đầu từ vụ
Đông – Xuân này, Bộ Nông nghiệp phải có kế hoạch mở rộng kết quả của các thí điểm
về giống lúa ngắn ngày và các giống hoa màu tốt ra địa bàn cả nước.

d) Phân
bón và thuốc trừ sâu .

Trong tháng
11 năm 1977, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước cùng Bộ Nông nghiệp và các ngành ngoại
thương, hóa chất, xây dựng, giao thông vận tải trình Thường vụ Hội đồng Chính
phủ đề án giải quyết một cách đồng bộ vấn đề sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển,
cung ứng phân khoáng (gồm đạm, lân, a-pa-tit nghiền, vôi và đá vôi) và thuốc trừ
sâu).

c) Điện và
than

Bộ Điện và
than phải có kế hoạch và giải quyết kịp thời các việc sau đây:

– Ở miền Nam
: Xây dựng mạng lưới điện và trạm biến thế điện phục vụ nông nghiệp, trước hết
là cho thủy lợi, nhằm đẩy mạnh thâm canh tăng vụ và mở rộng diện tích canh tác,
nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long.

– Ở miền Bắc
: Bảo đảm nguồn điện chủ động chống hạn và chống úng, bảo đảm điện cho sản xuất
công nghiệp phục vụ nông nghiệp.

– Bảo đảm
than cho nông nghiệp theo chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước.

Bộ Điện và
than cùng Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Nông nghiệp, Bộ Thủy lợi phối hợp giải
quyết các vấn đề nói trên trong tháng 11 năm 1977.

h) Giao
thông – vận tải :

Bộ Giao thông
vận tải  và các ngành có liên quan phải có kế hoạch bảo đảm các yêu cầu của
sản xuất nông nghiệp, nhất là:

– Bốc dỡ và vận
chuyển phân bón và thiết bị, vật tư nông nghiệp cho kịp thời vụ; vận chuyển kịp
thời lao động, và lương thực đến các nơi cần thiết để phát triển nông nghiệp.

– Phát triển
giao thông ở nông thôn và miền núi.

– Phục vụ
công tác khai hoang, công tác thủy lợi.

i) Xây dựng

Bộ Xây dựng
phải có kế hoạch bảo đảm :

– Cung cấp
vôi, đá vôi dùng làm phân bón; cung cấp vật liệu cho nông nghiệp, thủy lợi.

– Ưu tiên nhận
thầu và bảo đảm thi công đúng thời hạn những công trình do Bộ Nông nghiệp yêu cầu.

– Hoàn thành
nhanh chóng các công trình khác trực tiếp phục vụ nông nghiệp.

– Giúp Bộ
Nông nghiệp phát triển năng lực xây dựng quốc doanh của ngành nông nghiệp kết hợp
với việc tổ chức và huy động lực lượng xây dựng của các hợp tác xã nông nghiệp.

k) Lương
thực và thực phẩm

Bộ Lương thực
và thực phẩm có trách nhiệm:

– Kết hợp với
Bộ Cơ khí và luyện kim và Bộ Nông nghiệp lập kế hoạch phát triển công nghiệp chế
biến nông sản, nhất là hoa màu, ngay từ vụ Đông – Xuân này (Bộ Nông nghiệp phụ
trách hướng dẫn các hợp tác xã hoặc nông dân sơ chế nông sản tại các hợp tác
xã).

– Cung ứng
lương thực theo kế hoạch cho các nhu cầu của nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp
của việc định canh định cư; cùng với Bộ Nội thương, Bộ Nông nghiệp, Bộ Vật tư
v.v… tổ chức tốt việc thu mua lương thực.

l) Sắt
thép, xăng dầu.

Bộ Vật tư bảo đảm cung ứng kịp thời và đúng quy cách cho nông nghiệp và
thủy lợi các mặt hàng phục vụ nông nghiệp, các loại sắt thép, xăng dầu và các
loại vật tư kỹ thuật khác do Bộ được phân công quản lý.

5. Cần bổ sung các chính sách đối với nông nghiệp.

Trong điều kiện
chế độ sở hữu tập thể đã chiếm phần lớn trong nền sản xuất nông nghiệp ở miền Bắc,
còn ở miền Nam thì chúng ta chưa tổ chức được nhiều hợp tác xã, các chính sách
về thu mua, giá cả có tác dụng quan trọng đối với việc bảo đảm sản xuất và lưu
thông, phân phối.

Để phù hợp với
yêu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp và yêu cầu huy động nông sản của Nhà nước,
những chính sách lớn sau đây cần được bổ sung:

– Chính sách
sử dụng ruộng đất;

– Nghĩa vụ
lao động;

– Chính sách
thu mua lương thực;

– Chính sách
thu mua cây công nghiệp và nông sản, lâm sản, hải sản xuất khẩu;

– Chính sách
thu mua thịt lợn, cá biển;

– Chính sách
giá cả nông sản, lâm sản, hải sản, đặc biệt là giá thu mua thóc, hoa màu và thịt
lợn.

Các bộ có
trách nhiệm quản lý việc thực hiện các chính sách nói trên cần nghiên cứu và có
những đề nghị trình Thường vụ Hội đồng Chính phủ xem xét để kịp thời ban hanh
vào cuối năm 1977 và đầu năm 1978.

Khi soát xét
lại và nghiên cứu để bổ sung hoặc điều chỉnh các chính sách này, cần chú ý đến
vài trò của cấp huyện, đến vị trí của cấp huyện là một đơn vị để tính toán cân
đối về sản xuất và lưu thông phân phối, đồng thời phải chú trọng đầy đủ đến việc
chống đầu cơ buôn lậu.

6. Trên đây là những việc cấp bách mà các ngành, các cấp
phải triển khai với tinh thần khẩn trương nhất. Theo tinh thần ấy, Hội đồng
Chính phủ yêu cầu từng ngành xây dựng kế hoạch phục vụ nông nghiệp của ngành
mình và gửi trình Thường vụ Hội đồng Chính phủ trong tháng 11 năm 1977. Ngoài
các Bộ, các ngành có chức trách đã ghi ở trên, Hội đồng Chính phủ phải lưu ý
các Bộ và các ngành khác phải có kế hoạch về công tác sau đây:

a) Ủy ban
Khoa học và kỹ thuật Nhà nước cùng Bộ Nông nghiệp, Bộ Đại học trung học chuyên
nghiệp, Viện Khoa học Việt Nam lập kế hoạch nghiên cứu và ứng dụng khoa học và
kỹ thuật nông nghiệp. Để thực hiện các kế hoạch này, phải có sự tập hợp cán bộ
khoa học kỹ thuật vào phục vụ cho nông nghiệp. Trước mắt, cần chuẩn bị tốt để họp
hội nghị khoa học phục vụ nông nghiệp và cuối năm nay. Phải tăng cường cán bộ
và đầu tư thích đáng cho các chương trình nghiên cứu Nhà nước, phải tạo điều kiện
cho các cơ sở nghiên cứu thí nghiệm và quản lý khoa học kỹ thuật phục vụ tốt
nông nghiệp, lâm nghiệp. Đề án này phải trình Thường vụ Hội đồng Chính phủ vào
đầu năm 1978. Cần sớm tổ chức Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp và hệ thống
các viện chuyên ngành, chuyên đề, các phân viện tổng hợp ở một số vùng và các
trạm trại nghiên cứu ở các địa phương. Ủy ban Khoa học và kỹ thuật nhà nước có
kế hoạch cùng các Bộ làm tốt công tác quản lý kỹ thuật và nhanh chóng đưa tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, vào các ngành phục vụ nông nghiệp,
như thủy lợi, chế tạo máy, sản xuất thuốc trừ sâu, thuốc phòng và chữa bệnh cho
cây trồng và chăn nuôi v.v… Bộ Nông nghiệp có đề án tăng cường hệ thống quản lý
kỹ thuật toàn ngành từ trung ương đến các địa phương cho đến cơ sở để trình Thường
vụ Hội đồng Chính phủ xem xét.

Ủy ban Khoa học
và kỹ thuật Nhà nước chủ trì bàn với Bộ Nông nghiệp, Ban tổ chức của Chính phủ
và các ngành có liên quan về các vấn đề nói trên.

b) Các ngành
điều tra cơ bản, như đo đạc – bản đồ, khí tượng – thủy văn, địa chất, thống kê
phải có kế hoạch và biện pháp phục vụ tốt các khâu công tác: Phân vùng quy hoạch,
khảo sát thiết kế cho nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi. Tổng cục Địa chất phải
đẩy mạnh tìm kiếm, thăm dò các khoáng sản trực tiếp phục vụ nông nghiệp (chú ý
vấn đề nước ngầm).

c) Bộ Tài
chính cùng Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Ủy ban Vật giá Nhà nước và các ngành có
liên quan khác có kế hoạch giúp các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi
trong công tác quản lý nhằm đạt các yêu cầu : vừa bảo đảm phát triển sản xuất,
bảo đảm hiệu quả kinh tế, vừa ngăn ngừa lãng phí, tham ô.

d) Ngân hàng
Nhà nước sớm cải tiến chế độ và các thủ tục cho vay nông nghiệp.

e) Bộ Ngoại
thương có kế hoạch và biện pháp xuất khẩu nông sản, lâm sản, hải sản và nhập khẩu
vật tư, thiết bị phục vụ nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp.

g) Bộ Công
nghiệp nhẹ và liên hợp tác xã thủ công nghiệp và tiểu công nghiệp có kế hoạch
và biện pháp thu mua nguyên liệu nông sản, lâm sản và sản xuất những mặt hàng
phục vụ cho nông thôn, đặc biệt chú ý các vùng kinh tế mới.

h) Bộ Nội
thương có kế họach và biện pháp thu mua nông sản, lâm sản và cung ứng hàng tiêu
dùng.

i) Bộ Lao động
trình Thường vụ Hội đồng Chính phủ xét duyệt chế độ tổ chức lao động và quản lý
lao động trong nông nghiệp, lâm nghiệp, gắn liền với tổ chức lại sản xuất trong
các ngành đó; chế độ bảo hộ lao động trong nông nghiệp.

k) Tổng cục
Thống kê và Tổng cục Bưu điện có kế hoạch và biện pháp nâng cao công tác thông
tin phục vụ chỉ đạo nông nghiệp trong cả nước.

l) Các cơ
quan báo chí, thông tấn xã Việt Nam, Ủy ban phát thanh và truyền hình có trách
nhiệm góp phần vào việc tuyên truyền phục vụ nông nghiệp.

m) Các ngành
khác : Bộ Nội vụ, Ủy ban pháp chế, Ủy ban Dân tộc, Ủy ban Thanh tra của Chính
phủ, Ủy ban Khoa học xã hội, Hội đồng trọng tài kinh tế, Bộ Thương binh và xã hội
v.v… có kế hoạch nông nghiệp theo chức năng, nhiệm vụ của ngành mình.

7. Tăng cường công tác văn hóa, giáo dục phục vụ phát triển sản
xuất nông lâm, ngư nghiệp và tổ chức lại sản xuất và đời sống trên địa bàn huyện,
thúc đẩy xây dựng nông thôn mới và xây dựng con người mới.

a) Về văn
hóa, thông tin truyền thanh

Sử dụng tốt
các hình thức hoạt động văn hóa, thông tin và truyền thanh để tuyên truyền,
giáo dục đường lối, chủ trương, chính sách và những biện pháp cơ bản của Đảng
và Nhà nước, và biểu dương những điển hình tiên tiến về sản xuất nông, lâm ngư
nghiệp, về tổ chức lại sản xuất và đời sống trên địa bàn huyện : đẩy mạnh việc
xây dựng tư tưởng làm chủ tập thể, cổ vũ chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong sản
xuất và xây dựng; tăng cường việc phổ biến kiến thức khoa học – kỹ thuật và quản
lý trong nhân dân lao động.

Kết hợp chặt chẽ
việc tăng cường công tác văn hóa và thông tin chuyên nghiệp với việc mở rộng
công tác văn hóa và thông tin quần chúng để nâng cao dần đời sống văn hóa ở
nông thôn, đồng thời có kế hoạch từng bước xây dựng mạng lưới hợp lý những công
trình văn hóa và thông tin trên địa bàn huyện, nhằm phục vụ phát triển sản xuất
nông, lâm ngư nghiệp, xây dựng nông thôn mới và con người mới.

Đẩy mạnh
phong trào quần chúng xây dựng nếp sống văn minh và gia đình văn hóa mới, trên
cơ sở tổng kết và phổ biến kinh nghiệm của những điển hình tiên tiến ở nông
thôn.

b)Về giáo
dục.

Căn cứ phương
hướng chung của cải cách giáo dục, cần cải tiến nội dung và phương pháp dạy và
học những môn kỹ thuật và quản lý nông, lâm, ngư nghiệp ở các trường phổ thông
và trường, lớp bổ túc văn hóa.

– Tổ chức tốt
lực lượng giáo viên và học sinh (cấp II và những năm cuối của cấp II) tham gia
lao động sản xuất nông nghiệp, để vừa nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, vừa
góp phần phát triển sản xuất. Lao động sản xuất phải có kế hoạch cụ thể, có
tính sư phạm vững chắc, và phải đạt hiệu quả thiết thực về giáo dục và kinh tế.

– Nghiên cứu
và từng bước xây dựng mạng lưới trường học (mẫu giáo, phổ thông vừa học vừa
làm, bổ túc văn hóa) hợp lý và hoàn chỉnh trên địa bàn huyện, phù hợp với yêu cầu
xây dựng huyện nông – công nghiệp. Đẩy mạnh phong trào học tập và làm theo các
đơn vị tiên tiến về giáo dục.

c) Về đào
tạo và bồi dưỡng cán bộ công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ

– Xây dựng và
thực hiện một bước quy hoạch đào tạo và bồi dưỡng độ ngũ cán bộ quản lý, cán bộ
khoa học, kỹ thuật và nghiệp vụ, đội ngũ công nhân kỹ thuật, công nhân nông,
lâm ngư nghiệp và nhân viên nghiệp vụ.

– Tăng cường
các trường đại học nông nghiệp, thủy lợi, lâm nghiệp, hải sản hiện có; từng bước
xây dựng và tăng cường mạng lưới các trường cao đẳng và trường trung học chuyên
nghiệp về kỹ thuật và kinh tế nông, lâm nghiệp ở các tỉnh; từng bước xây dựng mạng
lưới các trường, lớp nghiệp vụ và kỹ thuật ở các huyện. Cải tiến và mở rộng
công tác đào tạo và bồi dưỡng tại chức. Đẩy mạnh phong trào học tập và làm theo
các đơn vị tiên tiến trong giáo dục đại học và chuyên nghiệp. Ban hành mới hoặc
bổ sung các chính sách thích hợp để thu hút ngày càng nhiều xã viên trẻ, ưu tú
và học sinh là con em nông dân tập thể vào các loại trường kỹ thuật và kinh tế
nông, lâm, ngư nghiệp.

– Tổ chức tốt
lực lượng cán bộ và học sinh các trường đại học và chuyên nghiệp tham gia lao động
sản xuất theo ngành nghề, thực nghiệm và nghiên cứu khoa học phục vụ nông, lâm,
ngư nghiệp.

d) Về y tế

– Đẩy mạnh
phong trào vệ sinh thể dục yêu nước theo nội dung 3 sạch (ăn sạch, uống sạch, ở
sạch), 3 diệt (diệt ruồi, diệt muỗi, diệt chuột) và 2 tốt (vệ sinh tốt, thể dục
tốt), thực hiện dứt điểm xây dựng 3 công trình (hố xí, giếng nước nhà tắm), kết
hợp với việc phòng, chống có hiệu quả các bệnh dịch và thanh toán dần các bệnh
xã hội, trước hết là bệnh sốt rét phải được thanh toán về cơ bản trong kế hoạch
5 năm lần thứ hai.

– Tăng cường
công tác vận động sinh đẻ có kế hoạch trong cả nước, đặc biệt là ở các tỉnh,
thành phố miền Nam, phấn đấu đến năm 1980 hạ mức phát triển số dân bình quân xuống
2%.

– Phát triển
nuôi, trồng và chế biến dược liệu từ nông, lâm nghiệp, nâng cao khả năng tự lực
về thuốc men ở hai tuyến huyện và xã. Động viên các gia đình, trường học, trạm
y tế và hợp tác xã trồng 25 cây thuốc chữa các bệnh thông thường, đi đôi với việc
đẩy mạnh nuôi, trồng theo quy mô lớn 96 cây và 5 con dược liệu, bảo đảm nguyên
liệu sản xuất thuốc cho trong nước và một phần cho xuất khẩu.

– Tập trung
xây dựng mạng lưới y tế trên địa bàn huyện, làm cho hai tuyến xã và huyện từng
bước bảo đảm yêu cầu cơ bản về y tế ở địa phương. Đẩy mạnh phong trào thi đua học
tập và làm theo những đơn vị y tế tiên tiến.

đ) Về thể
dục, thể thao

Trên cơ sở
quy hoạch mạng lưới nhà trẻ trên địa bàn huyện, cần phát triển mạnh mẽ và nâng
cao chất lượng các loại nhà trẻ ở nông thôn và ở các cơ sở nông, lâm, ngư nghiệp
quốc doanh. Đẩy mạnh phong trào thi đua học tập và làm theo huyện Diễn Châu. Mở
rộng công tác đào tạo và bồn dưỡng cô nuôi dạy trẻ cho nông thôn.

III. TẬP TRUNG CAO ĐỘ LỰC LƯỢNG, PHẤN ĐẤU HOÀN THÀNH VƯỢT MỨC
CÁC NHIỆM VỤ SẢN XUẤT VÀ XÂY DỰNG TRÊN MẶT TRẬN NÔNG NGHIỆP, THỦY LỢI TRONG MÙA
KHÔ 1977-1978

Mùa khô năm
1977-1978 có vị trí đặc biệt quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp. Đây là thời
gian thuận lợi nhất cho sản xuất và xây dựng, mở đầu cho việc thực hiện những
nhiệm vụ của 3 năm còn lại trong kế hoạch 5 năm về nông nghiệp. Thực hiện tốt
các kế hoạch mùa khô này, như sản xuất vụ đông, vụ xuân, chuẩn bị cho vụ hè thu
và vụ mùa 1978, vận động và tổ chức phong trào khai hoang, phong trào làm thủy
lợi, là tạo thêm điều kiện vật chất và kỹ thuật, tiếp thêm sức mạnh cho việc thực
hiện các chỉ tiêu mà Đại hội lần thức IV của Đảng đã đề ra. Các ngành, các địa
phương phải có kế hoạch cụ thể và phấn đấu với tinh thần rất tích cực và khẩn
trương tạo những điều kiện tốt, hỗ trợ có hiệu quả cho phong trào quần chúng
đang tiến quân mạnh mẽ trên mặt trận sản xuất và xây dựng.

Trước mắt,
trong tháng 10, Bộ Nông nghiệp và Bộ Thủy lợi trình Thường vụ Hội đồng Chính phủ
kế hoạch sản xuất vụ đông 1977, vụ xuân, vụ hè thu 1978 và chuẩn bị vụ mùa
1978.

Hội đồng
Chính phủ lưu ý các ngành, các cấp:

1. Phải tập trung sức phấn đấu cho sản xuất nông nghiệp
trong mùa khô này giành thắng lợi toàn diện, vượt bậc, cao hơn tất cả các mùa
khô trước về diện tích, năng suất và sản lượng. Phải kết hợp phong trào sản xuất
và xây dựng với việc thi hành nghị quyết số 61-CP và công tác cải tạo nông nghiệp
ở miền Nam.

2. Phải có kế hoạch chỉ đạo tập trung những vùng lúa cao
sản, nhất là đồng bằng Cửu Long (trên 25 vạn hécta) và đồng bằng Bắc Bộ (25 vạn
hécta). Kế hoạch phải toàn diện về các biện pháp, về tiến độ sản xuất, về thu
hoạch và huy động lực lượng. Phải đặc biệt chú ý vụ xuân, và vụ hè thu ở các tỉnh
miền Nam. Các ngành nông nghiệp, thủy lợi, cơ khí, điện, than, hóa chất và các
ngành thu mua phải phối hợp chặt chẽ để giành thắng lợi lớn.

3. Phải tạo ra một chuyển biến mới, một bước phát triển
vượt bậc về sản xuất, chế biến và thu mua hoa màu:

a) Ngô:
Phải tranh thủ làm tốt cả vụ ngô đông và ngô xuân, chú ý các vùng chuyên canh tập
trung trên các bãi thuộc hạ lưu sông Hồng, sông Thái Bình, các sông khu IV cũ.

Đối với các tỉnh
miền Nam, phải tạo nên những vùng chuyên canh ngô rộng lớn hàng chục hécta, ở nơi
chưa có thủy lợi thì làm theo mưa. Ngoài phần đất mà quy hoạch phân vùng đã
dành cho ngô, cần trồng ngô cả trên phần đất dành cho các cây khác (như cao su,
cà phê) mà trong một vài năm chưa có kế hoạch khai thác. Do việc cung cấp lương
thực tại các vùng còn có khó khăn, Bộ Nông nghiệp phải có kế hoạch tích cực điều
động lực lượng cơ giới đến khai thác. Phấn đấu đến năm 1980 sản lượng ngô đạt
ít nhất 1,170 triệu tấn.

b) Sắn :
Bộ Nông nghiệp, Bộ Lương thực và thực phẩm, các Ủy ban nhân dân tỉnh phải nắm lại
số sắn đã trồng trong năm nay và sẽ thu hoạch trong quý IV. Tổng cục Thống kê ước
lượng gần 2,5 triệu tấn sắn tươi (khoảng hơn 60 vạn tấn lương thực quy thóc). Bộ
Lương thực và thực phẩm cùng Bộ Nông nghiệp phải có kế hoạch thu hoạch, chế biến,
thu mua tạo một nguồn bổ sung quan trọng vào lực lượng lương thực của Nhà nước.
Phải dấy lên một phong trào tận dụng đất đai hoang hóa để trồng sắn; đến 1980
diện tích sắn phải đưa lên 65 vạn hécta trở lên. Phải tích cực thâm canh sắn ở
những nơi có điều kiện và thực hiện các biện pháp chống xói mòn đất.

Tháng 11 năm
1977, Thường vụ Hội đồng Chính phủ sẽ bàn chuyên đề về sản xuất, chế biến và
tiêu thụ sắn.

c) Khoai
tây :
Năm nay, tại miền Bắc, nhiều tỉnh trong vụ đông này đã đưa diện tích trồng
khoai tây lên gần gấp hai lần năm ngoái. Bộ Nông nghiệp và các ngành phải có kế
hoạch thiết thực giúp đỡ ngay các địa phương giải quyết kịp thời những vấn đề cụ
thể nhằm mở rộng hơn nữa diện tích khoai tây, đi đôi với thâm canh.

Bộ Nông nghiệp
và Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng cùng Bộ Giao thông vận tải có kế hoạch mở rộng
cơ sở làm giống khoai tây ở Lâm Đồng để chuẩn bị nhiều giống cho phát triển
khoai trong vụ đông 1978-1979. Phấn đấu đến năm 1980 sản lượng khoai tây phải
vượt mức 2,4 triệu tấn trong cả nước.

d) Cao
lương :
Tích cực phát triển cao lương ngay trong vụ đông xuân này ở nhiều
nơi để tạo thêm giống và kinh nghiệm gieo trồng chăm sóc nhằm mở rộng nhanh
chóng diện tích gieo trồng trong hai mùa khô tới. Phấn đấu đến năm 1980 sản lượng
cao lương đạt khoảng 30-40 vạn tấn.

e) Khoai
lang, rau, đậu các loại
: Phải làm mạnh trong nhân dân ở bất kỳ nơi nào có
điều kiện để cung cấp lương thực, thực phẩm cho người và thức ăn cho gia súc.

g) Giống
rau
: Ngay từ bây giờ, Bộ Nông nghiệp và các tỉnh phải có kế hoạch cụ thể sản
xuất giống các loại rau, nhất là bắp cải, su hào, củ cải v.v… để từ năm 1978 ta
tự túc giống rau.

Những chỉ
tiêu về sản xuất lương thực nói trên đây là mức tối thiểu; Bộ Nông nghiệp cùng Ủy
ban Kế hoạch Nhà nước phải làm việc với các tỉnh, thành phố để có kế hoạch đạt
mức cao nhất như đã phổ biến trong hội nghị nông nghiệp tháng 10 năm 1977; chú
trọng đưa tỷ trọng hoa màu quy thóc vượt 30% tổng sản lượng lương thực.

4. Bộ Ngoại thương chủ trì phối hợp với các Bộ Nông nghiệp,
Lâm nghiệp, Hải sản bàn kế hoạch sản xuất, khai thác, thu mua, chế biến nông,
lâm hải sản cho xuất khẩu trong mùa khô này. Phải tập trung lực lượng và chỉ đạo
có hiệu lực để bảo đảm yêu cầu cấp bách của xuất khẩu, và phù hợp với tính chất
thời vụ của sản xuất.

5. Về chăn nuôi

– Phải mau
chóng phục hồi đàn lợn và gia cầm, đưa số lợn có mặt ngày 1 tháng 4 năm 1977 là
10 triệu con lên trên 11,5 triệu con vào ngày 1 tháng 4 năm 1978; đưa đàn trâu
lên 2,3 triệu con, tăng 9 vạn so với ngày 1 tháng 4 năm 1977, đưa đàn bò lên
1,65 triệu con, tăng 11 vạn con so với ngày 1 tháng 4 năm 1977. Phải đẩy mạnh
phong trào chăn nuôi để tăng nhanh khối lượng phân hữu cơ, nhất là ở miền Nam.
Phải rất coi trọng phát triển đàn bò và trâu sữa.

– Tháng 11
năm 1977 Bộ Nông nghiệp chủ trì phối hợp với Ban Nông nghiệp trung ương, Bộ
Lương thực và thực phẩm và các ngành có liên quan nghiên cứu và trình Thường vụ
Hội đồng Chính phủ đề án hướng dẫn thi hành Nghị quyết của Hội nghị trung ương
lần thứ hai và dành tỷ lệ 15% đất đai cho sản xuất thức ăn gia súc. Yêu cầu là
phải vừa đảm bảo phát triển chăn nuôi, vừa bảo đảm tăng năng suất và sản lượng,
tăng phần lương thực huy động cho Nhà nước.

6. Về khai hoang xây dựng vùng kinh tế mới.

Chúng ta đang
đi vào thời vụ hàng năm của công tác khai hoang, phải tập trung để hoàn thành kế
hoạch khai hoang năm 1977 và chuẩn bị cho kế hoạch khai hoang năm 1978. Các Bộ
Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Quốc phòng cùng các ngành và các địa phương có liên
quan phải xác định kế hoạch xây dựng và sản xuất trên từng địa bàn nhằm đáp ứng
các yêu cầu cấp bách về sản xuất lương thực, nông sản xuất khẩu và nông sản
nguyên liệu cho công nghiệp; kế hoạch này phải phù hợp với điều kiện cụ thể về
cung cấp lương thực, vật tư, thiết bị của ta hiện nay, phải rất coi trọng mau
làm ra sản phẩm trên cơ sở quy hoạch và kế hoạch kinh doanh lâu dài. Phải đặc
biệt quan tâm tăng năng suất lao động và công suất máy móc, bố trí hợp lý, làm
3 ca, tăng cường sửa chữa, chống lãng phí lao động công suất thiết bị. Trong
tháng 10 năm 1977, Bộ Lâm nghiệp và Bộ Nông nghiệp trình Thủ tướng Chính phủ
ban hành điều lệ cụ thể về giao đất, giao rừng cho hợp tác xã kinh doanh, ngăn
ngừa nạn phá rừng, tự ý khai thác gỗ, củi trái với những quy định của Nhà nước
và vì lợi ích riêng.

Cần mau chóng
tăng cường bộ máy khai hoang ở các cấp : Bộ Nông nghiệp, Ban tổ chức của Chính
phủ phối hợp với Ban tổ chức trung ương bổ sung cán bộ cho Tổng cục khai hoang
và vùng kinh tế mới, tổ chức các bộ khung mạnh cho các nông trường, hợp tác xã
sắp thành lập. Các tỉnh có công tác khai hoang phải chọn cán bộ tốt vào tổ chức
quản lý khai hoang. Các Bộ quản lý tổng hợp như Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ
Tài chính, Ngân hàng, Bộ Lao động Ủy ban Vật giá, v.v… phải giúp Tổng cục khai
hoang và vùng kinh tế mới kinh nghiệm và cán bộ để ngay từ đầu quản lý chặt chẽ
và có nề nếp mọi khâu kế hoạch, lao động, vật tư, thiết bị, tiền vốn v.v…

Hội đồng
Chính phủ đòi hỏi các ngành, các cấp đề cao trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với
các đoàn thể nhân dân, hết lòng chăm lo sức khỏe và đời sống của đồng bào đi
xây dựng các vùng kinh tế mới. Các Bộ Xây dựng, Lâm nghiệp, Vật tư v.v… phải giải
quyết cho được vật liệu xây dựng nhà ở cho các vùng kinh tế mới, ngay từ đầu phải
bảo đảm nước sinh hoạt. Các Bộ Lương thực và thực phẩm, Nội thương, Y tế, Văn
hóa, Giáo dục v.v… phải cử cán bộ có thẩm quyền đi xuống tìm hiểu và giải quyết
tại chỗ những yêu cầu tối thiểu của cơ sở. Bộ Giao thông vận tải, ngoài nhiệm vụ
vận chuyển cho sản xuất và xây dựng, phải làm chu đáo trách nhiệm đưa đồng bào
đến quê hương mới; các tỉnh và thành phố có đồng bào đi qua phải thiết thực
giúp đỡ, ân cần săn sóc đồng bào.

7. Về thủy lợi : Bộ Thủy lợi cần có đề án trình Thường
vụ Hội đồng Chính phủ kế hoạch triển khai xây dựng thủy lợi trong mùa khô
1977-1978

IV. TĂNG
CƯỜNG CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN

Phải tăng cường
sự chỉ đạo, phải đổi mới cách làm việc của Thường vụ Hội đồng Chính phủ, các
ngành, các cấp.

1. Tăng cường
sự chỉ đạo của Thường vụ Hội đồng Chính phủ

a) Thường
vụ Hội đồng Chính phủ,
cần dành thời gian thích đáng để giải quyết các vấn
đề về nông nghiệp và các vấn đề sản xuất công nghiệp, lưu thông phân phối… phục
vụ nông nghiệp, thủy lợi.

b) Cải tiến
sự phân công của các Phó thủ tướng
theo hướng mỗi đồng chí Phó thủ tướng được
phân công phụ trách một lĩnh vực công việc mà không phải chỉ là phân công phụ
trách một khối Bộ. Phụ trách một lĩnh vực, Phó thủ tướng theo các chủ trương, kế
hoạch đã có, đôn đốc các ngành có liên quan thực hiện. Đối với vấn đề quan trọng
và có liên quan đến lĩnh vực khác, Phó thủ tướng phụ trách trao đổi thống nhất
với các Phó thủ tướng khác hoặc báo cáo với Thủ tướng Chính phủ để giải quyết.

Kiện toàn tổ
chức của Văn phòng Phủ thủ tướng, chú ý tăng cường bộ phận nông nghiệp của Văn
phòng Phủ thủ tướng.

2. Tăng cường
hệ thống bộ máy nông nghiệp từ trung ương đến địa phương:
Tăng cường bộ máy
(tổ chức và cán bộ) Bộ Nông nghiệp, tăng cường cơ quan nông nghiệp huyện, xác định
nhiệm vụ của cấp tỉnh đối với nông nghiệp, và tăng cường Tổng cục khai hoang và
vùng kinh tế mới.

Trong quý IV
năm 1977, Bộ Nông nghiệp bàn với các ngành có liên quan và trình Thường vụ Hội
đồng Chính phủ xét Điều lệ tổ chức và hoạt động của bộ máy nông nghiệp từ trung
ương đến địa phương; trong đề án này phải đề cập đến những vấn đề có tính chất
thời sự hiện nay, như cách làm kế hoạch nông nghiệp, sự phân công giữa Ủy ban kế
hoạch Nhà nước và Bộ Nông nghiệp, việc tổ chức cung ứng vật tư cho các đơn vị
cơ sở.

3. Tăng cường
sự chỉ đạo của các Bộ có liên quan đến sản xuất nông nghiệp,
như cơ khí, điện
lực, giao thông, vận tải v.v… ở mỗi Bộ, Thủ trưởng đích thân chỉ đạo những công
tác thuộc lĩnh vực phục vụ cho nông nghiệp.

Phải tăng cường
các bộ máy phục vụ nông nghiệp ở các Bộ, Tổng cục, Các Bộ, Tổng cục cùng Ban tổ
chức của Chính phủ thực hiện việc này trong quý IV năm 1977. Trong khi thực hiện
phải theo nguyên tắc “Thiết thực, có việc mới đặt người, bộ máy gọn nhẹ”, không
được để bộ máy tổ chức vừa phình ra, vừa ít hiệu lực.

4. Tăng cường cán bộ nông
nghiệp cho các tỉnh miền Nam

Ban tổ chức của Chính phủ phối hợp
với Ban tổ chức trung ương phải gấp rút tăng cường cán bộ nông nghiệp cho các tỉnh
miền Nam bằng cách tích cực bồi dưỡng cán bộ địa phương và đưa thêm cán bộ kinh
tế và kỹ thuật ở trung ương vào.

Ban tổ chức của Chính phủ phối hợp
với Ban tổ chức trung ương và Ban nghiên cứu quản lý kinh tế trình Thường vụ Hội
đồng Chính phủ duyệt đề án “Bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh và cấp huyện ở
miền Nam” trong tháng 11 năm 1977 và tổ chức các lớp này vào đầu năm 1978.

Hội đồng Chính phủ quyết định điều
động từ 30% đến 50% cán bộ của các Ty thủy lợi, Ty nông nghiệp, Ty tài chính ở
các tỉnh miền Bắc tăng cường cho các tỉnh miền Nam Cán bộ được điều đi phải là
cán bộ tốt, có trình độ chuyên môn và kỹ thuật khá.

Hội đồng Chính phủ giao nhiệm vụ
cho thủ trưởng các ngành kinh tế tài chính bàn với các Chủ tịch Ủy ban nhân dân
các tỉnh trung du và đồng bằng miền Bắc ở điều ở mỗi Ty ở tỉnh một Trưởng Ty hoặc
Phó Ty có năng lực vào tăng cường cho các tỉnh miền Nam.

Ban tổ chức của Chính phủ cùng Bộ
Lao động phối hợp với Ban tổ chức trung ương xây dựng ngay chính sách đối với
những cán bộ được điều động vào tăng cường cho các tỉnh, các huyện, các nông
trường, lâm trường và vùng kinh tế mới ở miền Nam và trình Thường vụ Hội đồng
Chính phủ xét trong quý IV năm 1977.

5. Để bảo đảm  thực
hiện các mục tiêu về sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp như nghị quyết Đại hội IV
của Đảng đã đề ra, phải có sự tập trung chỉ đạo, có cách tổ chức làm việc mới
nhằm thực hiện cho được những công tác trọng tâm, xây dựng cho được các vùng sản
xuất trọng điểm.

Đối với những công việc lớn tiến
hành trong khu vực hợp tác xã và trong nhân dân, khi cần thiết Ủy ban nhân dân
của tỉnh, các huyện cần mở những chiến dịch để động viên đông đảo quần chúng
góp sức giải quyết dứt điểm những công trình quan trọng hoặc để bảo đảm thời vụ
của mùa màng. Khi làm những đợt động viên như vậy cần chuẩn bị chu đáo, có kế
hoạch huy động hợp lý, không lãng phí sức dân, tiết kiệm lương thực, vật tư, tiền
vốn.

6. Chế độ làm việc và kỷ
luật làm việc có vai trò rất quan trọng để bảo đảm hiệu lực của bộ máy Nhà nước.
Cần phải qua việc thực hiện sự chỉ đạo tập trung, khẩn trương đối với nông nghiệp
mà chấn chỉnh công việc của bộ máy quản lý Nhà nước. Hội đồng Chính phủ giao đồng
chí Bộ trưởng Phủ thủ tướng chủ trì nghiên cứu việc chấn chỉnh chế độ và phương
pháp làm việc của Hội đồng Chính phủ, cũng như các ngành và các cấp trên tinh
thần soát lại để loại trừ những cái lỗi thời, củng cố lại chế độ làm việc và kỷ
luật của bộ máy Nhà nước nhằm làm cho giữa các ngành ở trung ương và giữa các
ngành với các cấp ở địa phương có sự phối hợp chặt chẽ để chỉ đạo và phục vụ tốt
các đơn vị cơ sở có hiệu quả hơn, và trình Hội đồng Chính phủ xét trong quý I
năm 1978. Trước mắt, các thủ trưởng cơ quan phải khắc phục ngay những điều bất
hợp lý, trì trệ ảnh hưởng đến thời vụ nông nghiệp.

7. Về những việc cần làm
ngay và những vấn đề giải quyết sớm nói trong nghị quyết của Hội đồng Chính phủ
kỳ này, Hội đồng Chính phủ giao cho Văn phòng Phủ thủ tướng sắp xếp vào chương
trình nghị sự và chương trình chỉ đạo của Thường vụ Hội đồng Chính phủ, đồng thời
đôn đốc các ngành, các cấp chuẩn bị cho việc xét giải quyết cũng như cho việc
thực hiện.

Trong việc xây dựng và phát triển
nền kinh tế xã hội chủ nghĩa của nước, có những thuận lợi rất cơ bản nhưng cũng
có nhiều khó khăn to lớn phải vượt qua bằng sức sáng tạo và lao động không mệt
mỏi của toàn thể cán bộ của ngành, các cấp và của toàn dân ta, nhất là ra sức
vượt các khó khăn trong những năm trước mắt này.

Phải phát động được phong trào
toàn dân ra sức làm nông nghiệp và tích cực phục vụ cho sự phát triển nông nghiệp,
nuôi dưỡng cho được phong trào đó, tổ chức phong trào thi đua sâu rộng và sôi nổi
trên cả nước. Quân đội làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, đồng thời làm nhiệm vụ xây
dựng kinh tế, góp phần rất quan trọng vào phong trào lâm nông nghiệp của toàn
dân.

Nông nghiệp là lĩnh vực rất rộng
lớn, đòi hỏi thực hiện nhiều việc mới mẻ đối với quần chúng, nhất là làm ba cuộc
cách mạng trong nông nghiệp. Phải làm cho nông dân lao động thật sự làm chủ tập
thể từ lao động sản xuất, đến phân phối tiêu dùng, làm nghĩa vụ đối với Nhà nước,
xây dựng cuộc sống vật chất và văn hóa mới ở nông thôn. Vì vậy trong mỗi thời vụ
trồng cấy, thậm chí trong mỗi việc đề ra dù lớn hay nhỏ cũng đều phải phát động
phong trào quần chúng. Như vậy ở khắp mọi nơi đâu đâu cũng phải có phong trào
quần chúng rộng rãi, liên tục, phong phú.

Phải động viên cả quần chúng phi
nông nghiệp tiến quân vào nông nghiệp. Cả nước tiến lên xây dựng đất nước,
thanh toán nghèo nàn lạc hậu bắt đầu từ lâm nông nghiệp. Tất cả mọi người dân,
từ nông dân, công nhân, cán bộ cho đến quân đội, học sinh, nhân dân thành thị đều
phải được thu hút vào mặt trận trung tâm này.

Phải tổ chức phong trào thi đua
trong quần chúng, với những nội dung thiết thực và phong phú : Thi đua sản xuất
lương thực, thi đua làm hoa màu, thi đua làm thủy lợi, thi đua làm nông sản xuất
khẩu, thi đua thâm canh tăng vụ, đẩy mạnh chăn nuôn gia súc, cho đến trong thiếu
niên cũng có thể tổ chức thi đua nuôi trâu béo, nuôi gà, lợn, làm phân xanh, làm
kế hoạch nhỏ v.v…

Đi đôi với động viên, phải cải
tiến nhiều mặt công tác của Nhà nước như đã nói trên và phải có sự phối hợp chặt
chễ hoạt động giữa bộ máy chính quyền và các đoàn thể quần chúng. Phải bằng các
hành động cụ thể, thiết thực mà thể hiện nguyên tắc Đảng lãnh đạo, nhân dân làm
chủ tập thể, Nhà nước quản lý. Đó chínhh là động lực của mọi phong trào.

Chúng ta có đường lối đúng đắn của
Đảng, nước ta có nguồn lao động dồi dào, có tài nguyên phong phú, nhất định
nhân dân ta mau chóng khắc phục được các khó khăn hiện nay, thực hiện đạt và vượt
mức các mục tiêu về nông nghiệp do Đại hội IV của Đảng đề ra. Công việc to lớn
đó đòi hỏi phải có sự chuyển biến mạnh mẽ về tổ chức và quản lý của Hội đồng
Chính phủ, của từng ngành, từng cấp. Mọi người trong bộ máy Nhà nước, trước hết
là các thủ trưởng các ngành và các địa phương phải có những nổ lực vượt bật, phải
cải tiến công việc của mình, bảo đảm thực hiện thắng lợi nghị quyết Hội nghị lần
thứ hai của Ban chấp hành trung ương Đảng theo đường lối mà đại hội IV đã vạch
ra.

 

T.M.
HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ.

Phạm Văn Đồng

 

 HỘI
ĐỒNG CHÍNH PHỦ
******

CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
*********

Số
: 289-CP


Nội, ngày 29 tháng 10  năm 1977

SOẠN HỢP ĐỒNG, ĐƠN, VĂN BẢN THEO YÊU CẦU CHỈ 500.000đ

--- Gọi ngay 1900.0191 ---

(Tư vấn Miễn phí - Hỗ trợ 24/7)

Công ty Luật LVN - Địa chỉ: Số 16B Nguyễn Thái Học, Yết Kiêu, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam

Gmail: luatlvn@gmail.com

ỦY
BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
——-

CỘNG
HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
———

Số:
63/CT-UB

Tp.
Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 10 năm 1977

 

CHỈ THỊ

VỀ
VIỆC QUẢN LÝ GIÁ CÔNG MAY ĐO TƯ NHÂN

Tình hình giá công may đo hiện
nay so với thời gian đầu mới giải phóng tăng từ 3 đến 5 lần (quần âu trước từ
3đ00 đến 3đ50, sơ mi nam bình quân 2đ00, sơ mi nữ từ 0,80 đến 1đ00). thời điểm
tăng như sau:

– Tháng 10/1975 :

 + Quần âu từ 4đ00 đến 5đ00

 + Sơ mi nam từ 2đ50 đến
3đ00

 + Sơ mi nữ từ 1đ00 đến
1đ50

– Tháng 4/1976 :

 + Quẩn âu nam từ 8đ00 đến
10đ00

 + Quần âu nữ 8đ00

 + Sơ mi nam từ 6đ00 đến
8đ00

 + Sơ mi nữ 6đ00

– Tháng 9/1976 đến nay :

 + Quần âu nam, nữ từ 12,00
đến 15,00 (tư nhân)

 + Quần âu nam, nữ từ 8đ00
đến 12đ00 (tổ hợp)

 + Sơ mi nam, nữ từ 12đ00
đến 15đ00 ( tư nhân)

Trong khi đó giá công may của
thương nghiệp nhà nước là:

 + Quần âu nam :

 – Sợi bông 2đ 90

 – Sợi tổng hợp 3đ 20

 + Quần âu nữ :

 – Sợi bông 2đ 20

 – Sợi tổng hợp 2đ 80

 + Sơ mi nam :

 – Sợi bông dài tay 2đ 20

 – Sợi bông ngắn tay 1đ 80

 – Sợi tổng hợp dài tay
2đ60

 – Sợi tổng hợp ngắn tay
2đ20

 + Sơ mi nữ :

 – Sợi bông dài tay 1đ80 –
1đ 90

 – Sợi bông ngắn tay 1đ70 –
1đ80

 – Sợi tổng hợp dài tay
2đ10 – 2đ20

 – Sợi tổng hợp ngắn tay
2đ00 – 2đ10

Năng suất một công nhân may bình
quân 4 cái áo hoặc quần một ngày; ở khu vực tư nhân, khả năng may trung bình
mỗi ngảy 3 áo hay quần. Như vậy rõ ràng năng suất của tư nhân so với thương
nghiệp nhà nước thì thấp nhưng hưởng thụ lại quá cao và đấy là khâu bất hợp lý
trong quá trình hình thành một cái áo hay một cái quần.

Giá công may đo như hiện nay đã
ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân lao động, nhất là đối với cán bộ, công nhân
viên nhà nước. Để đảm bảo quyền lợi cho khách hàng và từng bước cải tạo họ, đưa
họ vào con đường phục vụ đúng với chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với
những người làm ăn cá thể thỉ trước mắt cần phải đấu tranh với những khoản thu
bất hợp lý của họ, cụ thể là cần phải đấu tranh quản lý giá cả, từng bước đưa
giá xuống một cách hợp lý, phù hợp với yêu cầu cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây
dựng chủ nghĩa xã hội trong lĩnh vực ngành nghề phục vụ tư nhân.

Căn cứ vào tình hình thực tế
hiện nay, chưa thể cùng một lúc đưa giá công may đo xuống mức độ bình thường
như trước vì mạng lưới may đo của thương nghiệp nhà nước còn quá mỏng và hệ
thống may đo tư nhân chưa được cải tạo. Nhưng cũng không vì thế mà để cho họ
tùy tiện nâng giá; cần phải có biện pháp kéo giá xuống mức hợp lý. Do vậy, đối
với ngành may đo tư nhân, cần thực hiện những nội dung chủ yếu sau :

– Cho tiến hành làm đơn xin cấp
giấy phép hành nghề. Trên cơ sở này nắm lại toàn bộ ngành may đo tư nhân để
chuẩn bị cho bước cải tạo sau này.

– Thông qua việc cấp giấy phép
hành nghề mà tập hợp giáo dục và hướng dẫn giá công may đo hạ xuống từ 30 đến
40%. Ngành may mặc của thương nghiệp quốc doanh cung cấp những phụ liệu theo
khả năng hiện tại như chỉ, nút v.v… cho những người được cấp giấy phép hành
nghề nhằm tạo điều kiện cho họ có thể hoạt động bình thường. Mặt khác, phải dựa
vào chính quyền phường, xã để quản lý và giáo dục họ, tích cực bồi dưỡng những
người có biểu hiện tiến bộ làm nồng cốt cho cuộc vận động, làm sao chuyển thành
sự tự nguyện của toàn thể những người may đo đồng thanh kiến nghị rút giá xuống
mức hợp lý như mức hướng dẫn trên đây.

Ngành may đo là một nghề phục vụ
rất cần thiết cho xã hội, nên trước mắt, còn tạm thời duy trì trên cơ sở cá
nhân nhưng tập hợp lại dưới hình thức tập thể với sự tự nguyện của họ; phải
ngăn ngừa mặt tiêu cực của họ, nhưng không để họ ngừng hoạt động làm ảnh hưởng
đến sinh hoạt của nhân dân.

Để thực hiện phương hướng trên,
Quận sẽ là địa bàn chỉ đạo thống nhất và phường là đơn vị thực hiện theo kế
hoạch chung của Quận. Từng phường sẽ tiến hành tổ chức giáo dục, hướng dẫn làm
đơn xin phép hành nghề và thông qua đó để giám sát việc thực hiện giá công may
đo sau khi các hộ may đo đã tự nguyện xin hạ giá.

Để có cơ sở giữ giá phục vụ nhân
dân trong dịp tết 1978 sắp tới, các quận cần khẩn trương tổ chức thực hiện để
có thể triển khai thực hiện chậm nhất vào đầu tháng 11/1977. Căn cứ theo kế
hoạch chung của Quận.

 

 

Nơi gửi :
-VP Phủ Thủ tướng
-Thường trực Thành ủy
(để báo cáo)
– A.6 Dân, A,5 Xuân
– VP Bộ Nội thương
– Các Quận huyện
– Sở Thương nghiệp
– Tổng hợp (Chị Phận)
– Lưu
 

TM.
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH/THƯỜN TRỰC

Lê Đình Nhơn

 

 

Nơi gửi :
-VP Phủ Thủ tướng
-Thường trực Thành ủy
(để báo cáo)
– A.6 Dân, A,5 Xuân
– VP Bộ Nội thương
– Các Quận huyện
– Sở Thương nghiệp
– Tổng hợp (Chị Phận)
– Lưu
 

TM.
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH/THƯỜN TRỰC

Lê Đình Nhơn

SOẠN HỢP ĐỒNG, ĐƠN, VĂN BẢN THEO YÊU CẦU CHỈ 500.000đ

--- Gọi ngay 1900.0191 ---

(Tư vấn Miễn phí - Hỗ trợ 24/7)

Công ty Luật LVN - Địa chỉ: Số 16B Nguyễn Thái Học, Yết Kiêu, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam

Gmail: luatlvn@gmail.com

ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
——-

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
———

Số:
601/QĐ-UB

Tp. Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 11 năm 1977

QUYẾT ĐỊNH

THÀNH
LẬP BAN QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG CÁC QUẬN, HUYỆN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN, HUYỆN

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

– Căn cứ vào Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các
cấp ngày 27 tháng 10 năm 1962 ;
– Để đẩy mạnh công tác đấu tranh quản lý thị trường, chống đầu cơ tích trữ,
gian thương hiện hành ;
– Xét đề nghị của đồng chí Trưởng Ban quản lý thị trường Thành phố,

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1.- Nay thành lập Ban quản lý thị trường cấp Quận, Huyện trực
thuộc Ủy ban nhân dân Quận, Huyện.

Ban quản lý thị trường Quận,
Huyện có nhiệm vụ chính như sau :

1. Nghiên cứu cụ thể hóa kế
hoạch của Ban quản lý thị trường thành phố cho thích hợp với tình hình địa
phương.

2. Xây dựng kế hoạch, biện pháp
đấu tranh chống đầu cơ tích trữ, mua gian bán lận, tổ chức sắp xếp các chợ theo
chủ trương chung của Ủy ban nhân dân Thành phố, nhằm tiến tới quản lý chặt chẽ
thị trường, ổn định giá cả, góp phần ổn định từng bước đời sống nhân dân lao
động.

3. Giúp Ủy ban nhân dân Quận,
Huyện tổ chức, chỉ đạo đôn đốc các ngành, các cấp thực hiện tốt công tác quản
lý thị trường.

4. Xét và đề nghị Ủy ban nhân
dân Quận, Huyện ra quyết định xử lý những vụ vi phạm các quy định về quản lý
thị trường, những vụ vi phạm chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa, theo tinh thần
Chỉ thị số 146/TTg ngày 05 tháng 6 năm 1974 của Thủ tướng Chính phủ.

Điều 2.- Chỉ định các ngành sau đây vào thành phần Ban quản lý thị
trường Quận, Huyện :

1- Đ/c Phó Chủ tịch UBND Quận,
Huyện phụ trách tài mậu làm Trưởng ban.

2- Đ/c Trưởng phòng Thương
nghiệp, Phó ban

3- Đ/c Trưởng Công an Quận,
Huyện, Phó ban

4- Đ/c Hội trưởng Hội LH Phụ nữ
Quận, Phó ban

5- Đ/c Quận đội trưởng, Ủy viên

6- Đ/c Trưởng phòng Tài chánh,
Ủy viên

7- Đ/c Viện trưởng Viện KSND
Quận, Huyện, Ủy viên

8- Đc Trưởng phòng Thuế, Ủy viên

9- Đ/c Trưởng phòng Y tế

10- Đ/c Trưởng phòng Giao thông
vận tải, Ủy viên

11- Đ/c Trưởng phòng Lương thực,
Ủy viên

Điều 3.– Ban quản lý thị trường Quận, Huyện được sử dụng con dấu
riêng để hoạt động. Giúp việc cho Ban có 03 (ba) cán bộ chuyên trách để nghiên
cứu, tổng hợp tình hình hoạt động của Ban, dự thảo các văn bản, kế hoạc công
tác. Nơi làm việc của Ban đặt tại Phòng Thương nghiệp Quận, Huyện. Mọi kinh phí
hoạt động của Ban (kế cả phụ cấp bồi dưỡng ngoài giờ) được dùng kinh phí cải
tạo, do Ban Cải tạo Quận, Huyện dự trù.

Điều 4.- Các đồng chí Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố, Trưởng
Ban Tổ chức Chánh quyền, Giám đốc Sở Tài chánh, Trưởng Ban Cải tạo Thành phố,
Giám đốc Sở Công an, Giám đốc Sở Thương nghiệp, Trưởng Ban quản lý thị trường
Thành phố và Ủy ban nhân dân các Quận, Huyện có trách nhiệm thi hành quyết định
này.

Nơi nhận:
-Như điều 4
-Vp. Phủ Thủ tướng “để b/c”
-Ban TV. Thành ủy “để b/c”
-Ban Cải tạo TƯ “để b/c”
-Các thành viên của Ban quản lý thị trường TP (để biết)
-Tổng hợp UB (anh Bé)
-Lưu.
nc.40b

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH/THƯỜNG TRỰC

Lê Đình Nhơn

Nơi nhận:
-Như điều 4
-Vp. Phủ Thủ tướng “để b/c”
-Ban TV. Thành ủy “để b/c”
-Ban Cải tạo TƯ “để b/c”
-Các thành viên của Ban quản lý thị trường TP (để biết)
-Tổng hợp UB (anh Bé)
-Lưu.
nc.40b

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH/THƯỜNG TRỰC

Lê Đình Nhơn

SOẠN HỢP ĐỒNG, ĐƠN, VĂN BẢN THEO YÊU CẦU CHỈ 500.000đ

--- Gọi ngay 1900.0191 ---

(Tư vấn Miễn phí - Hỗ trợ 24/7)

Công ty Luật LVN - Địa chỉ: Số 16B Nguyễn Thái Học, Yết Kiêu, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam

Gmail: luatlvn@gmail.com

ỦY
BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
——-

CỘNG
HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
———

Số:
64/CT-UB

Tp.
Hồ Chí Minh, ngày 02 tháng 11 năm 1977

 

CHỈ THỊ

VỀ
VIỆC XÁC NHẬN LÝ LỊCH VÀ ĐIỀU CHỈNH KHAI SANH CON CỦA LIỆT SĨ, CÁN BỘ CÁCH
MẠNG, LẬP TRONG CÁC VÙNG BỊ TẠM CHIẾM TRONG THỜI KỲ CHỐNG MỸ

Trong thời gian kháng chiến
chống Mỹ, một số con em cán bộ, chiến sĩ sanh trong vùng tạm bị chiếm, hoặc
sanh trong chiến khu đưa ra vùng tạm bị chiếm nuôi dưỡng, được thân nhân khai
sanh, nhưng vì phải tránh sự theo dõi của địch nên đã khai không đúng lý lịch
như sau:

– Cha đi kháng chiến, mẹ sanh
con ở nhà, khai sanh cho con thì khai là cha vô danh, con mang họ mẹ.

– Cha mẹ đều ở trong chiến khu,
thân nhân khai không có tên cha, tên mẹ, hoặc khai tên người khác.

Đến nay, cha mẹ trở về nhận lại
con, nhưng trên giấy tờ khai sanh không phải con mình. Có cháu là con liệt sĩ
cũng gặp tình trạng này. Do đó, hồ sơ cán bộ, hồ sơ đi học của các cháu gặp
nhiều khó khăn.

Để giải quyết quyền lợi gia đình
cán bộ, chiến sĩ, đồng thời ổn định lý lịch các cháu trên phương diện pháp lý
có khai sanh hợp lệ và hợp thực trạng, sử dụng lâu dài, Ủy ban nhan dân Thành
phố quy định từ nay cho điều chỉnh khai sanh các cháu thuộc diện kể trên, cho
đúng với lý lịch thật, theo thủ tục sau đây :

1- Đương sự (cha, mẹ, nếu cha mẹ
là liệt sĩ thì người giám hộ, hoặc hiệu trưởng trường học, hoặc thủ trưởng cơ
quan nơi cháu đang học hay công tác) làm đơn xin điều chỉnh. Đơn phải kèm:

– Bản sao khai sanh cũ,

– Tóm tắt lý lịch của cha mẹ (có
tổ chức xác nhận),

– Bản sao tờ khai hộ khẫu.

2- Đơn gởi cho Ủy ban nhân dân
xã hay phường, nơi các cháu đã ở từ trước. Ủy ban nhân dân xã hay phường chịu
trách nhiệm xác minh, rồi giao lại đương sự đem đến Ủy ban nhân dân quận, huyện
nơi đã lập khai sanh.

3- Ủy ban nhân dân quận, huyện
duyệt và ra quyết định cho điều chỉnh (tùy đơn, hoặc thêm tên cha, tên mẹ, hoặc
sửa tên cha mẹ..) và giao cho Ủy viên hộ tịch sửa trong bộ sổ khai sanh lưu trữ
tại đơn vị mình, theo thể thức về điều chỉnh bộ sổ hộ tịch đã được hướng dẫn.

4- Khai sanh đã được điều chỉnh
như trên là cơ sở pháp lý cho các ban, ngành liên hệ lập hồ sơ cán bộ, hồ sơ
xin nhập học hoặc sửa đổi chứng chỉ học tập của các cháu.

Công tác này vừa giải quyết
quyền lợi của cán bộ, chiến sĩ đúng chính sách, vừa góp phần hoàn chỉnh công
tác thống kê dân số, để việc quản lý của Nhà nước được thuận lợi, do đó các nơi
cần tiến hành nhanh, gọn, bảo đảm chính xác.

Ủy ban nhân dân Thành phố yêu
cầu các quận huyện nghiên cứu kỹ và hướng dẫn các phường, xã chấp hành tốt.

 

 

 

TM.
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH/THƯỜNG TRỰC

Lê Đình Nhơn

 

 

 

TM.
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH/THƯỜNG TRỰC

Lê Đình Nhơn

SOẠN HỢP ĐỒNG, ĐƠN, VĂN BẢN THEO YÊU CẦU CHỈ 500.000đ

--- Gọi ngay 1900.0191 ---

(Tư vấn Miễn phí - Hỗ trợ 24/7)

Công ty Luật LVN - Địa chỉ: Số 16B Nguyễn Thái Học, Yết Kiêu, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam

Gmail: luatlvn@gmail.com

TỔNG
CỤC THỂ DỤC THÊ THAO – BỘ Y TẾ
*******

CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
*******

Số:
637-TT/LB


Nội, ngày 02 tháng 11 năm 1977

 

THÔNG TƯ LIÊN BỘ

VỀ PHÁT ĐỘNG PHONG TRÀO VỆ SINH THỂ DỤC YÊU NƯỚC

I. Ý NGHĨA CUỘC
VẬN ĐỘNG

Sau ba mươi năm chiến tranh ác
liệt, nhân dân ta đã giành được thắng lợi trọn vẹn và vững chắc, cách mạng nước
ta chuyển sang một giai đoạn mới, cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Do chiến
tranh kéo dài và do chủ nghĩa thực dân mới xô đẩy nhân dân ta trong vùng bị tạm
chiếm vào đời sống đồi trụy, sức khỏe nhân dân ta giảm sút nghiêm trọng. Các dịch,
bệnh nguy hiểm như dịch hạch, dịch tả vẫn còn xảy ra; các bệnh xã hội như sốt
rét, hoa liễu, phong, lao có tỷ lệ người mắc khá cao trong các vùng mới giải
phóng. Tuy nhiều tỉnh, thành phía Bắc đã xây dựng được một số đơn vị điển hình
về vệ sinh – thể dục và một số địa phương phía Nam trong hai năm qua đã bước đầu
phát động phong trào vệ sinh – thể dục, nhưng nói chung phong trào phát triển
chậm, nhất là ở vùng mới giải phóng.

Nghiêm chỉnh chấp hành nghị quyết
Đại hội lần thứ IV của Đảng, chỉ thị số 226, số 227 của Ban bí thư trung ương Đảng
để thực hiện khẩu hiệu: “Tất cả cho sản xuất, tất cả vì Tổ quốc giàu mạnh, vì hạnh
phúc của nhân dân”, trước mắt để thực hiện thắng lợi nghị quyết lần thứ 2 của
trung ương Đảng về nông nghiệp, một việc hết sức quan trọng và cấp bách phải
làm là phát động phong trào vệ sinh phòng bệnh và thể dục thể thao yêu nước, gọi
tắt là phong trào vệ sinh thể dục yêu nước sâu rộng trong cả nước nhằm bảo vệ
và tăng cường sức khỏe của nhân dân.

Tiến hành thắng lợi cuộc vận động
này chẳng những thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa, sự quan
tâm chăm sóc của Đảng và Nhà nước ta đối với sức khỏe của nhân dân mà còn góp
phần thiết thực vào việc xây dựng con người mới phát triển toàn diện, xây dựng
nếp sống văn minh, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã
hội chủ nghĩa.

II. MỤC TIÊU
CUỘC VẬN ĐỘNG

Thực hiện vệ sinh phòng bệnh và
luyện tập thể dục, thể thao thường xuyên là biện pháp chủ động và tích cực nhất
để bảo vệ và tăng cường sức khỏe, vì vậy cuộc vận động vệ sinh – thể dục yêu nước
phải liên tục, lâu dài , có tổ chức thành nền nếp, từng bước nâng cao chỉ tiêu
phấn đấu và phải nhằm mục tiêu chủ yếu vận động nhân dân ăn ở hợp vệ sinh, ngăn
chặn không để dịch bệnh lây lan, phát hiện ở đâu, dập tắt ngay ở đó. Đồng thời
vận động nhân dân, nhất là thanh niên, thiếu niên, học sinh rèn luyện thân thể
hàng ngày theo đúng phương pháp khoa học, hợp vệ sinh, hình thành nếp sống văn
minh lành mạnh.

III. NỘI DUNG
CUỘC VẬN ĐỘNG

Trong thời gian từ nay đến 1980
nội dung vận động là:

A. VỀ VỆ SINH PHÒNG BỆNH

a) Vận động nhân dân thực hiện
ba sạch, ba diệt.

1. Ba sạch:

– Ăn sạch: ăn chín, không ăn thức
ăn ôi thiu, không ăn thịt các vật chết.

– Uống sạch: uống nước đun sôi,
không pha nước lã, không uống nước lã.

– Ở sạch: nhà cửa gọn gàng,
thoáng khí, sạch sẽ. Có nước sạch dùng trong sinh hoạt, không tắm giặt bằng nước
ao tù, không phóng uế bừa bãi, có hố xí, hố tiểu hợp vệ sinh và thường xuyên bảo
quản sử dụng tốt.

Ba việc làm cụ thể:

– Làm hố xí: ở nông thôn, mỗi
gia đình có một hố xí hai ngăn đúng quy cách; ở thành phố, thị xã, thị trấn,
nhà nào cũng có hố xí riêng, hợp vệ sinh, những nơi công cộng xây dựng hố xí tự
hoại hoặc nửa tự hoại và có người chuyên làm vệ sinh. Hố xí loại nào và ở đâu
cũng phải giữ gìn và sử dụng tốt, không để bốc mùi hôi thối, không để có dòi,
phải ủ kỹ, không dùng phân tươi, tức là diệt ruồi tận gốc.

– Làm giếng nước và nhà tắm: ở
nông thôn, vận động nhân dân từ 1 đến 3 gia đình đào và xây một giếng để có đủ
nước sạch dùng trong ăn uống, tắm giặt; mỗi gia đình có một nhà tắm. Ở thành phố,
thị xã, thị trấn, phải có đủ nước máy bảo đảm vệ sinh cho nhân dân dùng.

– Tổ chức tổng vệ sinh hàng tuần
trong cơ quan, xí nghiệp, công, nông, lâm trường, trường học, đơn vị bộ đội, đường
phố, bản làng và các nơi công cộng: chợ, bến tàu xe v.v… gây thành nếp sống văn
mình, sạch đẹp.

2. Ba diệt:

– Diệt muỗi: Thả cá vào bể nước,
rải dầu vào cống rãnh để diệt bọ gậy, khơi cống rãnh không để nước ứ đọng, phun
thuốc diệt muỗi, nằm màn chống muỗi đốt.

– Diệt ruồi: Dùng vỉ, bẫy, thuốc
diệt ruồi, diệt dòi ở hố xí không cho sinh ra ruồi bằng biện pháp thông dụng hoặc
bằng hóa chất nếu có.

– Diệt chuột: Dùng bẫy thường
xuyên diệt chuột, hoặc bằng hóa chất.

Ngoài ra, cần diệt bọ chét ở các
ổ dịch hạch.

b) Vận động nhân dân tiêm và uống
thuốc phòng các bệnh dịch đúng thời gian, đúng đối tượng, đúng kỹ thuật, đạt ít
nhất 70%, ở nơi có dịch phải đạt 90 – 100% diện cần tiêm và uống thuốc phòng. Đặc
biệt coi trọng việc phòng và chống bệnh sốt rét và các bệnh xã hội có tính phổ
biến.

c) Ra sức tuyên truyền vận động
làm cho những người mắc bệnh hoa liễu, lao, phong… tự giác xin chữa bệnh. Dựa
vào nhân dân, phát hiện những người có bệnh, thuyết phục họ chữa cho khỏi bệnh,
chú ý các trại cải tạo, trại phục hồi nhân phẩm.

B. VỀ THỂ DỤC THỂ THAO

a) Vận động nhân dân luyện tập
thể dục hàng ngày, trong đó chú ý đối tượng chủ yếu là thanh niên, thiếu niên,
học sinh.

Ở các trường phổ thông, đại học
và trung học chuyên nghiệp: 100% học sinh tập thể dục trước giờ và giữa giờ học.

Ở các lớp mẫu giáo, vỡ lòng cả
phổ thông cấp I: tổ chức hướng dẫn các trò chơi vận động vui khỏe, hợp với lứa
tuổi.

Trong các lực lượng vũ trang: 100%
cán bộ, chiến sĩ rèn luyện thân thể hàng ngày.

Ở các xí nghiệp: 100% công nhân
tập thể dục chống mệt mỏi giữa giờ sản xuất.

Ở các cơ quan, công, nông, lâm
trường, khu kinh tế mới, xã, hợp tác xã và đường phố: 50% nhân dân tập thể dục.
Riêng thanh niên thực hiện 100% tập thể dục.

Trên cơ sở phong trào đó tích cực
xây dựng các câu lạc bộ sức khỏe thu hút các tầng lớp nhân dân tham gia luyện tập
thể dục hàng ngày để phòng bệnh, chữa bệnh, nâng cao sức khỏe.

b) Cần tổ chức việc thực hiện tập
các môn dễ, phổ cập, chạy, bơi và một số môn thể thao được quần chúng ưa thích:
bóng bàn, bóng chuyền, bóng đá, bơi thuyền, vật, võ v.v… Từ đó thực hiện chế độ
rèn luyện thân thể theo tiêu chuẩn trước hết trong lứa tuổi thanh niên, thiếu
niên. Phải chú ý vệ sinh môi trường và vệ sinh trong tập luyện thể dục thể
thao. Dụng cụ thể dục thể thao phải phù hợp với lứa tuổi, tầm vóc và sức khỏe từng
đối tượng.

c) Các cơ sở điều trị (bệnh viện,
bệnh xá) và các cơ sở điều dưỡng đều có khoa hoặc tổ thể dục chữa bệnh.

d) Hai ngành y tế và thể dục thể
thao cùng xây dựng một trung tâm thể dục phòng bệnh và chữa bệnh, trước mắt tổ
chức thi điểm dùng phương pháp thể dục phòng và chống một số bệnh thường mắc
trong học sinh (cong, vẹo cột sống, suy giảm thị lực…) và trong công nhân ở các
cơ sở sản xuất có chất độc hại hoặc lao động nặng nhọc (viêm phế quản, đau
lưng, đau các khớp xương, suy nhược thần kinh, suy nhược cơ thể)…

IV. BIỆN PHÁP
TIẾN HÀNH CUỘC VẬN ĐỘNG

A. VỀ TỔ CHỨC BAN CHỈ ĐẠO

Thành lập Ban chỉ đạo cuộc vận động
từ trung ương đến địa phương để tổ chức, chỉ đạo thực hiện phong trào vệ sinh
thể dục yêu nước.

1. Ở trung ương: Bộ Y tế và Tổng
cục thể dục thể thao cử ra Ban thường trực gồm một số đại biểu của hai ngành để
chỉ đạo thực hiện phong trào vệ sinh – thể dục yêu nước trong cả nước.

2. Ở tỉnh và thành phố: thành lập
Ban vệ sinh – thể dục tỉnh hoặc thành phố gồm có:

– Trưởng ban: đồng chí phó chủ tịch
hoặc đồng chí ủy viên Ủy ban nhân dân phụ trách văn xã;

– Các ủy viên: các đồng chí phụ
trách các ngành, các đoàn thể (y tế, thể dục thể thao, giáo dục, liên hiệp công
đoàn, thanh niên, phụ nữ);

– Ban thường trực gồm: đồng chí
Trưởng ban và hai đồng chí phụ trách hai ngành y tế, thể dục thể thao.

3. Ở quận và huyện cũng như ở tỉnh
và thành phố.

4. Ở phường, xã, tiểu khu: đồng
chí phó chủ tịch phụ trách văn xã làm trưởng ban; các đồng chí phụ trách y tế
xã, đại diện ban giám hiệu trường học, đoàn thanh niên, xã đội và cán bộ thể dục
thể thao làm ủy viên.

Ban chỉ đạo các cấp phải định kỳ
sinh hoạt, xây dựng chương trình hoạt động với những kế hoạch và biện pháp cụ
thể, thiết thực, trình cấp ủy Đảng và chính quyền thông qua rồi căn cứ vào đó
mà tổ chức chỉ đạo thực hiện. Hàng tháng kiểm điểm công tác, đánh giá tình hình
phong trào, kịp thời phát huy ưu điểm, khắc phục thiếu sót và báo cáo lên cấp
trên của mình; sáu tháng sơ kết, cuối năm tổng kết, rút ra những bài học bổ ích
để đẩy mạnh cuộc vận động đạt kết quả tốt hơn.

B. VỀ ĐÀO TẠO CÁN BỘ VỆ SINH –
THỂ DỤC

Dưới sự chỉ đạo của cấp ủy Đảng
và chính quyền, hai ngành y tế và thể dục thể thao có chương trình giảng dạy y
học thể dục thể thao và thể dục chữa bệnh trong các trường đào tạo cán bộ y tế
và cán bộ thể dục thể thao. Hai ngành tranh thủ sự phối hợp, giúp đỡ các ngành
và các đoàn thể hữu quan, cấp tốc mở các lớp ngắn ngày đào tạo hàng loạt cán bộ
vệ sinh – thể dục và hướng dẫn viên thể dục và thể dục chữa bệnh, lấy đoàn viên
thanh niên và giáo viên trẻ tuổi làm nòng cốt, kịp thời cung cấp cho phong
trào.

Cán bộ y tế và hội viên chữ thập
đỏ phải biết hướng dẫn các bài thể dục thông thường, cán bộ thể dục thể thao phải
biết vận động thực hiện vệ sinh phòng bệnh.

Cơ quan y tế và cơ quan thể dục
thể thao phải gương mẫu về vệ sinh phòng bệnh và thể dục thể thao. Nhà trường
phải tiến hành thực hiện tốt và truyền bá tốt cả vệ sinh và thể dục. Giáo viên
học sinh phải làm nòng cốt cho phong trào. Bộ đội đóng quân ở đâu phải tích cực
góp phần xây dựng phong trào vệ sinh – thể dục yêu nước ở đấy.

C. XÂY DỰNG VÀ NHÂN ĐIỂN HÌNH
TIÊN TIẾN VỀ VỆ SINH – THỂ DỤC

Dưới sự chỉ đạo của cấp ủy Đảng
và chính quyền hai ngành y tế và thể dục thể thao phải phối hợp chặt chẽ để chọn
điểm, xây dựng điển hình tiên tiến chung của hai ngành về vệ sinh – thể dục, tổng
kết kinh nghiệm và nhân ra diện. Riêng đơn vị tiên tiến về y tế phải đạt tiêu
chuẩn khá về thể dục thể thao; đơn vị tiên tiến về thể dục thể thao phải đạt
tiêu chuẩn khá về vệ sinh, phòng bệnh. Hai ngành đều phải coi đây là biện pháp
quan trọng để nhanh chóng mở rộng và nâng cao chất lượng phong trào vệ sinh –
thể dục yêu nước. Không nên ngành nào làm riêng ngành ấy, càng không được tách
vệ sinh phòng bệnh khỏi thể dục thể thao hoặc tách thể dục thể thao khỏi vệ
sinh phòng bệnh.

D. VỀ TUYÊN TRUYỀN VẬN ĐỘNG

Thông qua các cơ quan thông tin
báo chí và các hình thức nói chuyện, triển lãm, chiếu phim, nhất là dùng người
tốt, việc tốt thuyết phục làm cho toàn dân cùng hiểu rõ lợi ích của phong trào
vệ sinh – thể dục yêu nước từ đó hăng hái tham gia và tự giác thực hiện. Báo Sức
khỏe và báo Thể dục thể thao phải tuyên truyền cả vệ sinh và thể dục thể thao,
đồng thời chống thói quen ăn ở thiếu vệ sinh và cách tập luyện thể dục thể thao
thiếu khoa học.

Đ. VỀ THI ĐUA

Từ nay đến năm 1980 phấn đấu thực
hiện ở cơ sở: đạt từ 25% đến 30% số xã, phường, tiểu khu, cơ quan, công, nông,
lâm trường, xí nghiệp, trường học trở thành đơn vị tiên tiến về vệ sinh – thể dục.

Ở mỗi tỉnh, thành phố có từ 1 đến
2 huyện hoặc thị xã, quận, khu phố đạt tiên tiến về vệ sinh – thể dục.

Tổ chức thi đua giữa các địa
phương, các đơn vị, các cơ sở từng thời gian có sơ kết, tổng kết nơi nào đạt thành
tích xuất sắc sẽ được khen thưởng xứng đáng.

Nhận được thông tư này, các Sở,
Ty y tế và Sở, Ty thể dục thể thao phải phối hợp tổ chức học tập cho cán bộ của
hai ngành quán triệt mục đích ý nghĩa và nội dung cuộc vận động; xây dựng kế hoạch
triển khai cuộc vận động và xây dựng tổ chức các Ban vệ sinh – thể dục từ tỉnh
đến huyện; xã, khu phố, coi đó là một trọng tâm chỉ đạo chung của hai ngành
trong công tác phục vụ sức khỏe của nhân dân, xây dựng con người mới và nếp sống
văn minh, lành mạnh.

 

QUYỀN
TỔNG CỤC TRƯỞNG
TỔNG CỤC THỂ DỤC
THỂ THAO

Lê Đức Chính

KT.
BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ
THỨ TRƯỞNG
BÁC SĨ

Nguyễn Tăng Ẩm

 

SOẠN HỢP ĐỒNG, ĐƠN, VĂN BẢN THEO YÊU CẦU CHỈ 500.000đ

--- Gọi ngay 1900.0191 ---

(Tư vấn Miễn phí - Hỗ trợ 24/7)

Công ty Luật LVN - Địa chỉ: Số 16B Nguyễn Thái Học, Yết Kiêu, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam

Gmail: luatlvn@gmail.com

ỦY
BAN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
——-

CỘNG
HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
———

Số:
603/QĐ-UB

Tp.
Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 11 năm 1977

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ
VIỆC THÀNH LẬP BAN CẢI TẠO CÔNG THƯƠNG NGHIỆP THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN TÂN
BÌNH

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH

– Căn cứ vào Luật
tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp ngày 27 tháng 10 năm
1962 ;
– Xét yêu cầu tổ chức để đáp ứng nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh
vực kinh tế, đời sống của Thành phố ;
– Xét đề nghị của các đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận Tân Bình, Trưởng Ban
Cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh và Trưởng Ban Tổ chức Chánh quyền
Thành phố ;

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1.- Nay thành lập
Ban Cải tạo công thương nghiệp thuộc Ủy ban nhân dân Quận Tân Bình.

Ban Cải tạo công thương nghiệp
Quận Tân Bình là một Ban chuyên môn của Quận ủy và Ủy ban nhân dân Quận, chịu
sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Quận ủy và của Ủy ban nhân dân Quận, đồng
thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, giúp đỡ về chuyên môn nghiệp vụ của Ban Cải
tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh Thành phố.

Điều 2.– Ban Cải tạo công
thương nghiệp Quận Tân Bìnhcó chức năng nhiệm vụ :

– Giúp cho cấp ủy và Ủy ban nhân
dân Quận tổ chức chỉ đạo việc phối hợp với Ban Cải tạo các Sở, Ban, Ngành, Ban
Cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh Thành phố thực hiện cải tạo công
thương nghiệp tư bản tư doanh và xây dựng hệ thống kinh tế công thương nghiệp
xã hội chủ nghĩa trong địa bàn Quận.

– Nghiên cứu xây dựng kế hoạch
và giúp cấp ủy, Ủy ban nhân dân Quận tổ chức, chỉ đạo thực hiện việc cải tạo xã
hội chủ nghĩa đối với thành phần tiểu thương, tiểu chủ các ngành thương nghiệp,
dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp, vận tải, thủy sản, y tế, văn hóa, nghệ thuật,
v.v… trong Quận.

Điều 3.- Thành phần lãnh
đạo của Ban Cải tạo công thương nghiệp gồm các đồng chí sau đây :

1) Đồng chí NGUYỄN THÁI BẢO, Phó
Bí thư Quận ủy, Chủ tịch UBND Quận làm Trưởng Ban

2) Đồng chí ĐÀO VĂN THIẾT,
Thường vụ QU, Phó CT Quận làm Phó Ban Thường trực.

3) Đồng chí VÕ SONG LANG, Quận
ủy viên làm Phó Ban Thường trực.

4) Đồng chí NGUYỄN VĂN ĐỊNH – Ủy
viên Thường trực.

5) Đồng chí PHẠM CÔNG MỸ, Phó
Thư ký LHCĐ Quận, Ủy viên Thường trực.

6) Đồng chí HUỲNH THÀNH SƠN,
QUV, Phó Công an Quận, Ủy viên.

7) Đồng chí TRẦN NGỌC QUẾ, QUV,
Phó ban Tuyên huấn QU, Ủy viên.

8) Đồng chí DƯƠNG VĂN CỤA, QUV,
Phó  ban Tổ chức QU, Trưởng ban Tổ chức CQ, Ủy viên.

9) Đồng chí NGUYỄN VĂN NIÊN,
QUV, Trưởng phòng Thương nghiệp Quận, Ủy viên.

10) Đồng chí NGUYỄN THÀNH NĂM,
Trưởng phòng Công nghiệp, Ủy viên.

11) Đồng chí NGUYỄN THÁI SỬ,
Trưởng phòng Thống kê Kế hoạch, Ủy viên.

12) Đồng chí NGUYỄN THÀNH HUỆ,
Trưởng phòng Quản lý nhà đất, Ủy viên.

13) Đồng chí NGUYỄN THỊ NGUYỆT
ÁNH, Trưởng phòng GT vận tải, Ủy viên.

14) Đồng chí PHẠM VĂN BẢY, Ủy
viên Ban Tổ chức QU, Ủy viên.

15) Đồng chí BÙI THẮNG, Thường
trực Mặt trận Tổ quốc Quận, Ủy viên.

16) Đồng chí VÕ THỊ LƯƠNG, QUV,
Hội trưởng Phụ nữ Quận, Ủy viên.

17) Đồng chí LÂM VĂN TIẾP, Bí
thư Quận đoàn TN, Ủy viên.

Điều 4.- Biên chế của Ban
Cải tạo công thương nghiệp Quận Tân Bình là 25 (hai mươi lăm)người (không kể
các cán bộ kiêm nhiệm của các tổ chức khác cử sang tham gia).

Kinh phí hoạt động của Ban Cải
tạo công thương nghiệp Quận Tân Bình nằm trong kinh phí chung của Quận và Ban
Cải tạo Quận được phép sử dụng con dấu riêng để giao dịch trong công tác.

Điều 5.– Các đồng chí Chánh
Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố, Trưởng Ban Tổ chức Chánh quyền, Trưởng Ban
Cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh Thành phố, Giám đốc Sở Tài chánh,
Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận Tân Bình và Ban Cải tạo Quận Tân Bình chịu trách
nhiệm thi hành quyết định này.

 

 

Nơi nhận:
– Như điều 5
– BTC Thành ủy
– Ủy Ban Kế hoạch
– Sở Tài chánh
– Sở Công an
– BTC Chánh quyền (4 bản)
– Lưu VP Ủy Ban.  

TM.
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH/THƯỜNG TRỰC

Lê Đình Nhơn

 

 

Nơi nhận:
– Như điều 5
– BTC Thành ủy
– Ủy Ban Kế hoạch
– Sở Tài chánh
– Sở Công an
– BTC Chánh quyền (4 bản)
– Lưu VP Ủy Ban.  

TM.
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH/THƯỜNG TRỰC

Lê Đình Nhơn

SOẠN HỢP ĐỒNG, ĐƠN, VĂN BẢN THEO YÊU CẦU CHỈ 500.000đ

--- Gọi ngay 1900.0191 ---

(Tư vấn Miễn phí - Hỗ trợ 24/7)

Công ty Luật LVN - Địa chỉ: Số 16B Nguyễn Thái Học, Yết Kiêu, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam

Gmail: luatlvn@gmail.com

ỦY
BAN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
——-

CỘNG
HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
———

Số:
605/QĐ-UB

Tp.
Hồ Chí Minh, ngày 04 tháng 11 năm 1977

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ
VIỆC THÀNH LẬP BAN CẢI TẠO CÔNG THƯƠNG NGHIỆP THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC
MÔN

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH

– Căn cứ vào Luật
tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp ngày 27 tháng 10 năm
1962 ;
– Xét yêu cầu tổ chức để đáp ứng nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh
vực kinh tế, đời sống của Thành phố ;
– Xét đề nghị của các đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân Huyện Hóc Môn, Trưởng Ban
Cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh và Trưởng Ban Tổ chức Chánh quyền
Thành phố ;

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1.- Nay thành lập
Ban Cải tạo công thương nghiệp thuộc Ủy ban nhân dân Huyện Hóc Môn.

Ban Cải tạo công thương nghiệp
Huyện Hóc Môn là một Ban chuyên môn của Huyện ủy và Ủy ban nhân dân Huyện, chịu
sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Huyện ủy và của Ủy ban nhân dân Huyện,
đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, giúp đỡ về chuyên môn nghiệp vụ của Ban
Cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh Thành phố.

Điều 2.- Ban Cải tạo công
thương nghiệp Huyện Hóc Môncó chức năng nhiệm vụ :

– Giúp cho cấp ủy và Ủy ban nhân
dân Huyện tổ chức chỉ đạo việc phối hợp với Ban Cải tạo các Sở, Ban, Ngành, Ban
Cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh Thành phố thực hiện cải tạo công
thương nghiệp tư bản tư doanh và xây dựng hệ thống kinh tế công thương nghiệp
xã hội chủ nghĩa trong địa bàn Huyện.

– Nghiên cứu xây dựng kế hoạch
và giúp cấp ủy, Ủy ban nhân dân Huyện tổ chức, chỉ đạo thực hiện việc cải tạo
xã hội chủ nghĩa đối với thành phần tiểu thương, tiểu chủ các ngành thương
nghiệp, dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp, vận tải, thủy sản, y tế, văn hóa, nghệ
thuật, v.v… trong Huyện.

Điều 3.- Thành phần lãnh
đạo của Ban Cải tạo công thương nghiệp gồm các đồng chí sau đây :

1) Đồng chí DƯƠNG MINH HỒNG,
Thường vụ Huyện ủy, Phó Chủ tịch Huyện làm Trưởng Ban

2) Đồng chí NGUYỄN HỮU PHƯỚC,
Huyện ủy viên là Phó Ban Thường trực.

3) Đồng chí LÊ VĂN TÁT, Huyện ủy
viên, Trưởng phòng Công nghiệp huyện làm Phó Ban.

4) Đồng chí TRƯƠNG VĂN QUẢNG, Huyện
ủy viên, Trưởng phòng Thương nghiệp Huyện làm Phó Ban.

5) Đồng chí VĂN CÔNG MÃO, Thư ký
Công đoàn Huyện, Ủy viên.

6) Đồng chí NGUYỄN TẤN RĂNG,
Trưởng phòng Giao thông vận tải Huyện, Ủy viên.

7) Đồng chí PHẠM XUÂN HUY,
Trưởng phòng Thông tin văn hóa Huyện, Ủy viên.

8) Đồng chí NGUYỄN THỊ ÚT, Hội
trưởng Hội PN Huyện Ủy viên.

9) Đồng chí LÊ VĂN THÀNH, Bí thu
Huyện đoàn, Ủy viên.

10) Đồng chí TRẦN VĂN PHƯƠNG, CT
Mặt trận Tổ quốc Huyện, Ủy viên.

11) Đồng chí NGUYỄN HẢI PHÚ, Phó
Ban Tổ chức Huyện ủy, Ủy viên.

12) Đồng chí NGUYỄN VĂN TRÁNG,
Trưởng phòng Tổ chức chánh quyền, Ủy viên.

13) Đồng chí NGUYỄN VĂN CÔNG,
Phó ban Tuyên huấn, Ủy viên.

14) Đồng chí NGUYỄN VĂN THÔNG,
Trưởng phòng Kế hoạch Huyện, Ủy viên.

15) Đồng chí NGUYỄN VĂN HÁT, Phó
ban Công an Huyện, Ủy viên.

16) Đồng chí VĂN QUỐC HUY,
Trưởng phòng Thuế Huyện, Ủy viên.

17) Đồng chí ĐOÀN VĂN NGẬN,
Trưởng phòng Tài chánh Huyện, Ủy viên.

18) Đồng chí TRỊNH ĐÌNH NHÌ,
Trưởng phòng Quản lý Nhà đất Huyện, Ủy viên.

Điều 4.– Biên chế của Ban
Cải tạo công thương nghiệp Huyện Hóc Môn là 10 người (không kể các cán bộ kiêm
nhiệm của các tổ chức khác cử sang tham gia).

Kinh phí hoạt động của Ban Cải
tạo công thương nghiệp Huyện Hóc Môn nằm trong kinh phí chung của Huyện và Ban
Cải tạo Huyện được phép sử dụng con dấu riêng để giao dịch trong công tác.

Điều 5.- Các đồng chí
Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố, Trưởng Ban Tổ chức Chánh quyền,
Trưởng Ban Cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh Thành phố, Giám đốc Sở
Tài chánh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Huyện Hóc Môn và Ban Cải tạo Huyện Hóc Môn
chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.

 

 

Nơi nhận:
– Như điều 5
– BTC Thành ủy
– Ủy Ban Kế hoạch
– Sở Tài chánh
– Sở Công an
– BTC Chánh quyền (4 bản)
– Lưu VP Ủy Ban.  

TM.
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH/THƯỜNG TRỰC

Lê Đình Nhơn

 

 

Nơi nhận:
– Như điều 5
– BTC Thành ủy
– Ủy Ban Kế hoạch
– Sở Tài chánh
– Sở Công an
– BTC Chánh quyền (4 bản)
– Lưu VP Ủy Ban.  

TM.
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH/THƯỜNG TRỰC

Lê Đình Nhơn

SOẠN HỢP ĐỒNG, ĐƠN, VĂN BẢN THEO YÊU CẦU CHỈ 500.000đ

--- Gọi ngay 1900.0191 ---

(Tư vấn Miễn phí - Hỗ trợ 24/7)

Công ty Luật LVN - Địa chỉ: Số 16B Nguyễn Thái Học, Yết Kiêu, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam

Gmail: luatlvn@gmail.com

BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI
******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********

Số: 2849-QĐ/VT/GC

Hà Nội, ngày 05 tháng 11 năm 1977

 

QUYẾT ĐỊNH

SỬA ĐỔI ĐIỀU 18 THỂ LỆ TẠM THỜI VÀ BIỂU CƯỚC CẢNG PHÍ THU ĐỐI VỚI TÀU NƯỚC NGOÀI

BỘ TRƯỞNG BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI

Căn cứ quyết định số 787-QĐ/VTGC ngày 18 tháng 03 năm 1977 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải;
Xét yêu cầu phục vụ cho đời sống của thủy thủ tầu nước ngoài khi vào cảng biển Việt Nam;
Theo đề nghị của ông Trưởng ban Ban vận tải và ông Cục trưởng Cục đường biển.

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1.- Nay sửa lại điều 18 của Thể lệ tạm thời và biểu cước cảng phí thu đối với tầu nước ngoài ban hàng bằng quyết định số 787-QĐ/VTGC ngày 18-03-1977(1) của Bộ Giao thông vận tải như sau :

– Nước ngọt cung cấp tính theo m3, mức tối thiểu được tính một lần cung cấp nước ngọt cho thầu 1 tầu là 50m3;

– Cung cấp nước ngọt tại vòi ở cầu cảng là 2đ/1m3;

– Cung cấp nước ngọt do sàlan chở đến là 5đ/1m3

Điều 2. – Các ông Chánh văn phòng Bộ, Trưởng ban Ban vận tải Bộ, Cục trưởng cục đường biển và các ông giám đốc các cảng biển chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.

 

 

K.T. BỘ TRƯỞNG BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI
THỨ TRƯỞNG

Trịnh Ngọc Điệt

 

(1) In trong công báo số 5 ngày 31-03-1977

SOẠN HỢP ĐỒNG, ĐƠN, VĂN BẢN THEO YÊU CẦU CHỈ 500.000đ

--- Gọi ngay 1900.0191 ---

(Tư vấn Miễn phí - Hỗ trợ 24/7)

Công ty Luật LVN - Địa chỉ: Số 16B Nguyễn Thái Học, Yết Kiêu, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam

Gmail: luatlvn@gmail.com

BỘ
TÀI CHÍNH
******

CỘNG
HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********

Số:
12-TC/TCTT/CT


Nội, ngày 07 tháng 11 năm 1977

 

THÔNG TƯ

HƯỚNG DẪN THI HÀNH CHÍNH SÁCH MIỄN GIẢM THUẾ NÔNG NGHIỆP Ở CÁC
TỈNH, THÀNH PHỐ PHÍA BẮC

Trong các năm vừa qua sản xuất, chi phí thu nhập
và phân phối thu nhập của các hợp tác xã nông nghiệp tuy có nhiều thay đổi,
nhưng đối chiếu với thực tiễn thì chính sách miễn giảm thuế nông nghiệp nói chung
còn phù hợp. Chỉ có việc hướng dẫn thi hành chính sách thì chưa được hệ thống
hóa lại, nên việc vận dụng chính sách vào từng trường hợp cụ thể ở nhiều địa
phương có nhiều khó khăn lúng túng. Việc miễn giảm thuế nông nghiệp trong một số
trường hợp không sát với thu nhập thực tế, có hợp tác xã đáng được miễn giảm
nhiều thì miễn giảm ít, ngược lại có hợp tác xã thu hoạch thực tế đã đạt, hoặc
vượt sản lượng tính thuế, cũng được miễn giảm thuế, gây nên tình trạng đóng góp
không công bằng hợp lý và không chiếu cố, khuyến khính các hợp tác xã tích cực
chống thiên tai, quyết tâm thực hiện kế hoạch Nhà nước.

Để khắc phục tình hình trên, Bộ Tài chính hệ thống
hóa và hướng dẫn lại việc vận dụng chính sách miễn giảm thuế nông nghiệp cho
phù hợp tình hình hiện nay đối với từng loại hợp tác xã bị thiệt hại về mùa
màng khác nhau như sau.

1. Đối với hợp tác xã bị thiên
tai làm thiệt hại mùa màng, nếu tổng số thu cả năm trên toàn bộ diện tích chịu
thuế, chỉ bằng hoặc thấp hơn số chi phí vật chất thực tế cần thiết đã bỏ ra
trên diện tích chịu thuế đó, hợp tác xã đó được miễn giảm thuế theo điều 26 Điều
lệ thuế nông nghiệp.

Điều 26 của Điều lệ thuế nông nghiệp quy định:
“Trường hợp một vùng bị thiên tai đặc biệt nghiêm trọng, thiệt hại nặng nề, Ủy
ban hành chính tỉnh có thể đề nghị giảm, miễn thuế cho cả vùng, nhưng đề nghị
giảm, miễn thuế trên đều phải do Bộ Tài chính chuẩn y trước khi thi hành.

Các bộ nông dân cá thể ở trong vùng, nếu bị
thiên tai làm thiệt hại mùa màng như hợp tác xã cũng được xét miễn giảm như hợp
tác xã.

2. Đối với các hợp tác xã bị
thiên tai làm thiệt hại mùa màng, nếu tổng số thu cả năm trên toàn bộ diện tích
chịu thuế cao hơn chi phí vật chất thực tế cần thiết đã bỏ ra trên diện tích chịu
thuế đó, hợp tác xã đó được miễn giảm thuế theo điều 6 của nghị định số 375-TTg
ngày 15-10-1959, và điều 1 (điểm 2) của nghị định số 63-CP ngày 26-5-1962 của Hội
đồng Chính phủ, đối với hộ cá thể, được miễn giảm theo điều 24 của Điều lệ thuế
nông nghiệp số 715-TTg.

Điều 6 của nghị định số 375-TTg (quy định việc
miễn giảm thuế cho hợp tác xã nông nghiệp):

“Thiệt hại dưới 10% tổng số hoa lợi chịu thuế,
không giảm thuế;

Thiệt hại 10%, giảm 10% số thuế;

Thiệt hại trên 10% đến 15%, giảm 15% số thuế;

Thiệt hại trên 15% đến 20%, giảm 20% số thuế;

Thiệt hại trên 20% đến 25%, giảm 30% số thuế;

Thiệt hại trên 25% đến 30%, giảm 40% số thuế;

Thiệt hại trên 30% đến 35%, giảm 50% số thuế;

Thiệt hại trên 35% đến 40%, giảm 70% số thuế;

Thiệt hại trên 40% được miễn hẳn thuế”.

Điều 1 (điểm 2) của nghị định số 63-CP (quy định
các căn cứ để so sánh, tính toán xác định các tỷ lệ thiệt hại và các tỷ lệ được
giảm, miễn thuế): “Căn cứ vào thực tế thu hoạch cả năm trên diện tích chịu thuế
của hợp tác xã, đối chiếu với tổng sản lượng thường niên tính thuế, nếu thu hoạch
bị sút kém sẽ được miễn hoặc giảm thuế theo quy định ở điều 6 của nghị định số
375-TTg”.

Điều 24 của Điều lệ thuế nông nghiệp (quy định
việc miễn giảm thuế cho hộ nông dân sản xuất cá thể):

“Thiệt hại dưới 20% tổng số hoa lợi chịu thuế,
không giảm thuế;

Thiệt hại từ 20% đến 50% tổng số hoa lợi chịu
thuế, tỷ lệ số thuế được giảm bằng tỷ lệ số thiệt hại;

Thiệt hại từ 50% đến 60% tổng số hoa lợi chịu
thuế, giảm 70% số thuế;

Thiệt hại trên 60% tổng số hoa lợi chịu thuế, miễn
hẳn thuế;

Trong tổng số ruộng của một nông hộ, nếu có một
phần hoàn toàn không thu hoạch (mất trắng) thì mặc dù toàn bộ số thiệt hại của
nông hộ chưa tới 20% tổng số hoa lợi chịu thuế, vẫn được miễn hẳn phần thuế
tính vào số hoa lợi bị mất trắng”. – và điểm V trong Điều lệ thuế nông nghiệp
quy định thêm: “…Khi xét ruộng bị mất trắng thì lấy thửa làm đơn vị, trường hợp
một thửa chỉ mất trắng một phần, thì không coi là mất trắng”.

Việc xét và tính miễn thuế cho từng thửa ruộng mất
trắng phải theo đúng Điều lệ thuế nông nghiệp và các nghị định số 375-TTg, nghị
định số 63-CP của Hội đồng Chính phủ và chỉ áp dụng đối với hộ nông dân sản xuất
cá thể, không đặt ra đối với sản xuất tập thể của hợp tác xã.

Nay bãi bỏ điểm 4 thông tư số 16-BTC/NN ngày
31-5-1962 về việc miễn thuế ruộng mất trắng của hợp tác xã.

3. Đối với các hộ già cả, gia
đình cán bộ, bộ đội, công nhân viên… neo đơn, không đủ khả năng nộp thuế, được
miễn, giảm thuế nông nghiệp theo điều 27 của Điều lệ thuế nông nghiệp.

Điều 27 của Điều lệ thuế nông nghiệp quy định:
“Đối với những nông hộ, vì gặp tai nạn bất ngờ hay vì một lý do chính đáng mà bị
mất sức lao động, làm ảnh hưởng đến đời sống và khả năng đóng góp, thì nhân dân
bình nghị đề nghị chiếu cố giảm, miễn, tùy hoàn cảnh cụ thể từng nông hộ, không
căn cứ vào những tỷ lệ quy định ở điều 24 đối với thiệt hại mùa màng”.

Gặp trường hợp hợp tác xã sản xuất nông nghệp
thu hoạch vụ chiên xuân tốt, vụ mùa bị thiên tai làm mất mùa, đã được xét giảm
thuế theo điểm 1 và 2 trong thông tư này, hợp tác xã vẫn còn phải nộp thuế
nhưng vụ mùa không được thu hoạch, thì Ủy ban nhân dân tỉnh được xét giảm hoặc
miễn số thuế còn phải nộp cho hợp tác xã.

Những đề nghị giảm, miễn thuế trên phải được báo
cáo với Bộ Tài chính chuẩn y trước khi thi hành.

4. Để bảo đảm thực hiện đúng đắn
chính sách miễn giảm thuế nông nghiệp đối với nhân dân ở những nơi bị thiệt hại
mùa màng, Bộ Tài chính lưu ý Ủy ban nhân dân các địa phương một số điểm:

a) Phải tổ chức tuyên truyền, phổ biến chu đáo mục
đích, nội dung chính sách miễn giảm thuế nông nghiệp quán triệt cho cán bộ và
nhân dân; nhất là cán bộ tài chính huyện và xã phải nắm vững cả phương pháp
công tác để thực hiện đúng.

b) Phải có kế hoạch công tác và chỉ đạo chặt chẽ
những nơi bị thiệt hại mùa màng chấp hành nghiêm chỉnh từ việc điều tra nắm
tình hình, tính toán, lập sổ miễn giảm cho đến việc xét duyệt và công bố miễn
giảm cho từng hợp tác xã và các hộ cá thể, đảm bảo yêu cầu sát đúng thực tế,
công bằng, hợp lý, đơn giản, kịp thời, sòng phẳng. Sau khi duyệt miễn giảm đơn
vị nào đã tạm nộp nhiều thuế vụ chiêm xuân, nay có thừa thuế thì Ủy ban nhân
dân tỉnh quyết định hoàn trả ngay số thuế nộp thừa cho từng đơn vị; nộp thuế bằng
thóc, nay trả lại bằng thóc, nộp thuế bằng tiền nay trả lại bằng tiền.

c) Miễn giảm thuế nông nghiệp là công tác phức tạp,
cần phải có lãnh đạo tư tưởng và kiểm tra cụ thể, tránh tư tưởng nặng về thu,
miễn giảm khắt khe, hoặc miễn giảm tràn lan làm sai chính sách.

 

K.T. BỘ TRƯỞNG
BỘ TÀI CHÍNH

THỨ TRƯỞNG


Nguyễn Ly

 

SOẠN HỢP ĐỒNG, ĐƠN, VĂN BẢN THEO YÊU CẦU CHỈ 500.000đ

--- Gọi ngay 1900.0191 ---

(Tư vấn Miễn phí - Hỗ trợ 24/7)

Công ty Luật LVN - Địa chỉ: Số 16B Nguyễn Thái Học, Yết Kiêu, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam

Gmail: luatlvn@gmail.com

ỦY
BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
——-

CỘNG
HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
———

Số:
66/CT-UB

Tp.
Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 11 năm 1977

 

CHỈ THỊ

VỀ
CẢI TIẾN MỘT BƯỚC LỀ LỐI LÀM VIỆC VÀ THỰC HIỆN THỐNG NHỨT CHẾ ĐỘ THỈNH THỊ, BÁO
CÁO

Thực hiện Nghị quyết Đại hội
toàn quốc của Đảng lần thứ IV và nghị quyết Đại hội Đại biểu của Đảng bộ Thành
phố lần thứ I, vừa qua các ngành và các cấp chánh quyền trong thành phố đã đề
cao ý thức tự lực tự cường, phát huy tinh thần trách nhiệm và hợp tác xã hội
chủ nghĩa trong công tác, phấn đầu vươn lên khắc phục nhiều khó khăn khách quan
và chủ quan nhằm cải tiến từng bước công tác quản lý nhà nước, cải tạo và xây
dựng thành phố.

Qua những cuộc vận động tự phê
bình và phê bình trước nhân dân, nhứt là trong cuộc vận động thực hiện 2 nghị
quyết 28 và 29 của Thành ủy và các nghị quyết của Hội đồng nhân dân Thành phố,
nhiều ban, ngành, sở và cơ quan chánh quyền các cấp đã có một bước chuyển bỉến
về lề lối làm việc,về tác phong công tác theo hướng tăng cường đi sát dân, sát
cơ sở hơn trước, nâng cao tinh thần tổ chức và kỷ luật trong việc chấp hành các
chủ trương, chánh sách của Đảng và Nhà nước.

Bên cạnh những tiến bộ bước đầu
trên đây, trong các cấp, các ngành còn có những mặt thiếu sót khá phổ biến
trong công tác quản lý ngành và địa phương.

Chánh quyền địa phương và cơ
quan quản lý ngành chưa nắm chắc, kịp thời và đầy đủ tình hình an ninh chính
trị, quản lý kinh tế, văn hóa xã hội và đời sống nhân dân trong địa phương và
ngành mình và cũng chưa căn cứ vào nội dung các chỉ thị, nghị quyết của cấp ủy
Đảng và chỉ đạo của Ủy ban cấp trên hay ngành dọc. Việc báo cáo, thỉnh thị đối
với cấp trên chưa được tổ chức tốt, nên chế độ báo cáo chưa có nền nếp thống
nhứt. Các báo cáo định kỳ thường làm chậm và không thường xuyên, những vấn đề
quan trọng và cấp bách thường không được phản ánh nhanh và đầy đủ đến cơ quan
có trách nhiệm trực tiếp giải quyết. Gặp vấn đề phải giải quyêt, nhiều cơ quan
chưa phát huy đầy đủ vai trò, chức năng của mình và tinh thần hợp tác xã hội
chủ nghĩa với các cơ quan bạn để nghiên cứu cách giải quyết một cách tích cực
theo đúng chức trách, nên nhiều việc bị đẩy qua đẩy lại, mất thì giờ, chậm trễ
công việc. Nhiều việc đưa lên cấp trên xin ý kiến giải quyết nhưng chưa được
nghiên cứu kỹ lưỡng, chưa được suy nghĩ thấu đáo, chưa có kiến nghị về các
phương án giải quyết nên cấp trên phải hỏi đi hỏi lại và phải để nhiều thì giờ
tìm hiểu, nghiên cứu sự việc. Vừa qua nội dung một số hội nghị chưa được chuẩn
bị đầy đủ nên mất thì giờ mà hội nghị không đề ra được những nghị quyết dứt
khoát, v.v…

Những thiếu sót nói trên bộc lộ
những khuyết điểm trong tổ chức công tác và lề lối làm việc, và đều xuất phát
từ những nguyên nhân chủ quan, nên các ngành và các cấp đều có thể và cần phải
cùng nhau sửa chữa một cách đồng bộ từ trên xuống dưới, thực hiện một nền nếp
công tác thống nhứt.

Để khắc phục tình trạng không
tốt nói trên, bắt đầu từ 15-11-1977, tất cả các sở, ban ngành của Thành phố, Ủy
ban nhân dân các quận, huyện đều thực hiện chế độ thỉnh thị, báo cáo và một số
quy định về lề lối làm việc sau đây :

1.-Thực hiện chế độ báo cáo hàng
ngày, báo cáo 5 ngày, hàng tháng, quý, 6 tháng và báo cáo cuối năm, đồng thời
bãi bỏ chế độ báo cáo tuần, 10 ngày, nữa tháng.

– Báo cáo ngày : hàng ngày trước
15 giờ, báo cáo về Ủy ban nhân dân Thành phố những việc quan trọng và cần giải
quyết gấp liên quan đến an ninh chánh trị, trật tự xã hội, quản lý kinh tế, văn
hóa và đời sống nhân dân. Báo cáo thật ngắn gọn sự kiện xảy ra, kèm theo biện
pháp xử lý của cơ quan báo cáo và kiến nghị với cấp trên. Cách báo cáo : cử cán
bộ đến trực tiếp báo cáo hoặc báo cáo bằng giấy do liên lạc đặc biệt mang đến
Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố, hoặc báo cáo bằng điện thoại (gọi về các
số sau đây : 99814, 20022, 20026, 22693).

– Báo cáo 5 ngày tổng hợp tình
hình của ngành, của địa phưong trong 5 ngày qua, nêu lên những vấn đề quan
trọng cần lưu ý trong công tác chỉ đạo. Báo cáo 5 ngày phải đến Văn phòng Ủy
ban nhân dân Thành phố trong các ngày 5, 10, 15, 20, 25 và ngày cuối tháng.

– Các báo cáo tháng phải đến Ủy
ban nhân dân Thành phố trước ngày 28, nêu rõ những nhận định, đánh giá đối với
việc thực hiện chương trình công tác trong tháng, tập trung vào những công tác
lớn, có so sánh với tháng trước, rút ra được nhân tố mới xuất hiện trong phong
trào lao động sản xuất và phân phối, giải quyết đời sống cho nhân dân lao động
và đề xuất những vấn đề cần giải quyết kèm theo kiến nghị về các cách giải
quyết đó.

– Các báo cáo quý, 6 tháng, cuối
năm là những báo cáo được nghiên cứu công phu hơn, có sơ kết, tổng kết, có số
liệu phân tích so sánh và rút ra đươc những kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ
đạo, tổ chức thực hiện những chủ trương công tác của Thành phố. Các báo cáo này
cần được thảo luận tập thể trong bộ phận lãnh đạo, đảm bảo cho nội dung các báo
cáo có chất lượng, có tác dụng thiết thực chỉ đạo thực tiễn, thông qua đó góp
phần quán triệt đầy đủ hơn đường lối, chính sách, tư tưởng, quan điểm của Đảng
và pháp luật của Nhà nước, chỉ ra những phương hướng cải tiến công tác và kinh
nghiệm tổ chức, quản lý các mặt tư tưởng, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa
và công tác chuyên môn của từng ngành.

Để nâng cao chất lượng các báo
cáo, từng ngành phải có cách làm việc nắm chắc được tình hình của ngành mình
đến tận cơ sở và thường xuyên phải xuống cơ sở, kịp thời giải quyết những khó
khăn của cơ sở. Mặt khác, Thủ trưởng các ban, ngành, sở, Chủ tịch Ủy ban nhân
dân quận, huyện cần trực tiếp chỉ đạo việc sơ kết, tổng kết tình hình và kinh
nghiệm công tác, không thể khoán trắng cho những người giúp việc. Các báo cáo
phải do các đồng chí lãnh đạo ký khi gởi lên cấp trên, tránh tình trạng làm báo
cáo lấy lệ, nội dung thì dàn đều, về hình thức thì rườm rà, nói nhiều việc
nhưng không nêu bật được những vấn đề cần giải quyết để thúc đẩy thực tiễn cách
mạng tiến lên.

Khi có vấn đề liên quan đến địa
phương hay ngành khác thì cơ quan báo cáo có trách nhiệm trao đổi ý kiến trước
với cơ quan và chánh quyền địa phương đó và báo cáo cho Ủy ban nhân dân Thành
phố biết ý kiến của cơ quan hữu quan. Những việc gì ngành chủ quản có thể chủ
động giải quyết được thì cần tranh thủ bàn bạc giải quyết với các cơ quan hữu
quan rồi báo cáo cho Ủy ban nhân dân Thành phố biết, chứ không chờ đợi và tránh
cho Thường trực Ủy ban bớt triệu tập những hội nghị không cần thiết.

2.- Nền nếp hội ý, hội báo và
chế độ hội nghị :

Bên cạnh chế độ báo cáo trên đây
và ngoài các cuộc hội nghị thường kỳ giữa Ủy ban nhân dân Thành phố với các
ban, ngành, sở, quận, huyện, trong trường hợp cần thiết phải giải quyết những
vấn đề phức tạp hoặc mới nảy sinh, chưa có chủ trương của Thành phố, Thủ trưởng
các ban, ngành, sở và Thường trực Ủy ban nhân dân quận, huyện có thể thông qua
Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố để đăng ký thời gian và nội dung báo cáo
thỉnh thị trực tiếp với Thường trực Ủy ban nhân dân Thành phố. Mặt khác, tùy
theo yêu cầu của công tác chỉ đạo và khi có ý kiến của Thường trực Ủy ban nhân
dân Thành phố, Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố có nhiệm vụ tổ chức cho
Thường trực Ủy ban nhân dân Thành phố làm việc riêng với Chủ tịch, Phó Chủ tịch
Ủy ban nhân dân quận, huyện, Thủ trưởng ban, ngành, sở. Chỉ có Ủy ban nhân dân
thành phố mới có quyền triệu tập hội nghị có thành phần Chủ tịch, Phó Chủ tịch
Ủy ban nhân dân quận, huyện. Khi cần triệu tập Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban
nhân dân quận, huyện, các ban, ngành, sở phải đề nghị với Ủy ban nhân dân Thành
phố.

Để đảm bảo chất lượng của các
hội nghị cần thiết, từ nay đề án nội dung các hội nghị của ngành cấp thành phố
phải được ngành chủ quản chuẩn bị chu đáo ; bản dự thảo báo cáo của Hội nghị
phải gởi đến Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố và phải được Phó Chủ tịch (Ủy
ban nhân dân Thành phố) phụ trách khối thông qua trước khi triệu tập hội nghị.

Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành
phố có nhiệm vụ chuẩn bị nội dung và thời gian làm việc của Thường trực Ủy ban
nhân dân Thành phố, đảm bảo cho các cuộc họp đạt được mục đích, yêu cầu đề ra.
Hàng tuần dành thời gian thích đáng cho Chủ tịch và các Phó Chủ tịch đi cơ sở,
kiểm tra công tác, nắm tình hình phong trào quần chúng ở cơ sở. Đối với những
công tác đã có chủ trương của Ủy ban nhân dân Thành phố, trong quá trình thực
hiện nếu gặp khó khăn, các ngành và địa phương liên hệ với Văn phòng Ủy ban
nhân dân Thành phố để được hướng dẫn thực hiện.

Nhận được chỉ thị này, Thủ
trưởng các ban, ngành, sở và Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện cần nghiên
cứu hướng dẫn các đơn vị trực thuộc, các phường, xã cải tiến một bước lề lối
làm việc và chế độ, nội dung báo cáo cho phù hợp với tinh thần chỉ thị này.

 

 

 

TM.
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH/THƯỜNG TRỰC

Lê Đình Nhơn

 

 

 

TM.
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH/THƯỜNG TRỰC

Lê Đình Nhơn

SOẠN HỢP ĐỒNG, ĐƠN, VĂN BẢN THEO YÊU CẦU CHỈ 500.000đ

--- Gọi ngay 1900.0191 ---

(Tư vấn Miễn phí - Hỗ trợ 24/7)

Công ty Luật LVN - Địa chỉ: Số 16B Nguyễn Thái Học, Yết Kiêu, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam

Gmail: luatlvn@gmail.com

BỘ
GIAO THÔNG VẬN TẢI
******

CỘNG
HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********

Số:
2867-VTGC


Nội, ngày 09 tháng 11 năm 1977 

 

QUYẾT ĐỊNH

SỬA ĐỔI VÀ BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA QUYẾT ĐỊNH SỐ 1843 –
QĐ/VTGC BAN HÀNH CÁC KHOẢN PHÍ MÀ ĐẠI LÝ TÀU BIỂN ĐƯỢC THU ĐỐI VỚI TÀU NƯỚC
NGOÀI

BỘ TRƯỞNG BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI

Căn cứ nghị định số 158-CP
ngày 4-7-1974 của Hội đồng Chính phủ quy định tổ chức bộ máy của Bộ Giao thông
vận tải;
Căn cứ quyết định số 1843 –
QĐ/VTGC ngày 07/05/1976 ban hành khoản phí mà Đại lý tàu biển được thu đối với
tàu nước ngoài để làm các thủ tục và các dịch vụ khác cho tàu ra vào cảng;

Theo đề nghị của ông Trưởng
ban vận tải và ông Cục trưởng Cục đường biển.

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1.- Để cho phù hợp với
tình hình thực tế, nay sửa đổi và bổ sung mục 2, mục 3, mục 6 của điều 1 và
toàn bộ điều 5 của quyết định số 1843-QĐ/VTGC ngày 7-5-1976 của Bộ Giao thông vận
tải như sau :

a) Sửa lại mức phí hàng hóa của
mục 2, điều 1:

“- Mỗi tấn hàng hóa phục vụ thu
0,20đ

 – Mức tối thiểu  thu
100đ”

b) Sửa lại toàn bộ mục 3 của điều
1 về phí tính cho người ủy thác thứ hai :

“- Những bên có liên quan như chủ
tàu, người thuê tàu, chủ hàng, người nhận hàng và những người khác, ngoài người
ủy thác chính, yêu cầu đại lý chăm lo việc của họ trong cùng một con tàu, được
coi là người ủy thác thứ hai. Phí tính cho người ủy thác thứ hai như sau :

“ Một  tấn hàng hóa bốc xếp
0,10đ

Mức tối thiểu thu
      100đ”

c) Sửa lại mức phí tính vào chủ
những hãng tàu cho thuê dài hạn đã quy định trong mục 4 điều 1:

“- Một chuyến, mỗi chủ thu 300đ ở
mỗi cảng”

d) Sửa lại điểm r ở mục 6 của điều
1:

“- Dàn xếp và nhận chuyển các
kháng cáo hàng hải cho tàu, mỗi vụ thu 50đ”

e) Sửa lại toàn bộ điều 5 như
sau :

“- Người ủy nhiệm phải trực tiếp
thanh toán với đại lý:

Tất cả những khoản phí mà theo
luật lệ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định khi tàu ra vào
cảng phải trả;

Những khoản chi tiêu của tàu
trong thời gian tàu hoạt động ở khu vực cảng”.

Điều 2.– Các ông
Chánh văn phòng Bộ, Trưởng Ban Vận Tải, Cục trưởng cục đường biển và Giám đốc Đại
lý tàu biển Việt Nam chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.

           

 

K.T
BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG


 
Trịnh Ngọc Điệt

 

SOẠN HỢP ĐỒNG, ĐƠN, VĂN BẢN THEO YÊU CẦU CHỈ 500.000đ

--- Gọi ngay 1900.0191 ---

(Tư vấn Miễn phí - Hỗ trợ 24/7)

Công ty Luật LVN - Địa chỉ: Số 16B Nguyễn Thái Học, Yết Kiêu, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam

Gmail: luatlvn@gmail.com

ỦY
BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
———

CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
———–

Số:
67/CT-UB

Tp.
Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 11 năm 1977

 

CHỈ THỊ

VỀ
VIỆC TỔ CHỨC PHÂN CÔNG ĐÀO TẠO CÁN BỘ KHUNG CHO CÁC XÃ KINH TẾ MỚI TRONG MÙA KHÔ
1977 – 1978, 1978 – 1979 VÀ 1979 – 1980

Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng
bộ vòng 2 của Thành phố đã chỉ rõ : “Cùng với việc xây dựng các công trường thủ
công, mỗi quận phải chuẩn bị khung cán bộ cơ sở, cùng với đồng bào để xây dựng
bộ máy quản lý xã, ấp kinh tế mới. Số lượng đội ngũ cán bộ này sẽ tương xứng
với số lượng đồng bào được đi ở từng phường, từng quận (kể cả các loại cán bộ,
đảng viên, đoàn viên và hội viên).

Đội ngũ cán bộ này sẽ được đào
tạo, bồi dưỡng về năng lực lãnh đạo, về công tác chính quyền, quản lý kinh tế,
đời sống, văn hóa, xã hội, v.v… ; sẽ cùng với số cán bộ địa phương các tỉnh
bạn và số tự vệ, thanh niên xung phong trưởng thành trong quá trình xây dựng
tại các công trường thủ công mà hình thành bộ máy quản lý xã, ấp kinh tế mới”.

Vừa qua, ta chưa có sự quan tâm
đầy đủ đến bộ máy quản lý cho 82 xã kinh tế mới mà Thành phố đã đưa dân đến,
nên việc trực tiếp chăm lo đời sống, sản xuất của đồng bào còn nhiều thiếu sót,
đời sống nhân dân nơi đó đến nay còn rất nhiều khó khăn.

Căn cứ vào tinh thần cuộc họp
với các sở, quận do Ủy ban Kế hoạch Thành phố chủ trì ngày 31-10-1977 bàn về
việc triển khai công tác đào tạo cán bộ khung xã kinh tế mới, Ủy ban nhân dân
Thành phố yêu cầu các ban, ngành, sở và các quận lập kế hoạch cụ thể đào tạo
cán bộ cho vùng kinh tế mới sắp triển khai tới đây.

1- Về chỉ tiêu : Căn cứ vào tiến
độ xây dựng đưa dân đi, đã được Phủ Thủ tướng và Bộ Nông nghiệp phê chuẩn. Tổng
số cán bộ khung sẽ đào tạo từ 1977 đến 1980 phân bố theo ngành như sau :

a) Tổ chức đào tạo cán bộ chính
quyền, đoàn thể xã kinh tế mới 980 người, trong đó :

– mùa khô 1977 – 1978 : 294
người

– mùa khô 1978 – 1979 : 448
người

– mùa khô 1979 – 1989 : 238
người

b) Tổ chức đào tạo giáo viên cấp
I và mẫu giáo xã kinh tế mới 2.100 người, trong đó :

– mùa khô 1977 – 1978 : 630
người

– mùa khô 1978 – 1979 : 960
người

– mùa khô 1979 – 1980 : 510
người

c) Tổ chức đào tạo cán bộ y tế,
y tá xã kinh tế mới 700 người, trong đó:

– mùa khô 1977 – 1978 : 210
người

– mùa khô 1978 – 1979 : 320
người

– mùa khô 1979 – 1980 : 170
người

d) Tổ chức đào tạo cán bộ văn
hóa, thông tin xã kinh tế mới 600 người, trong đó :

– mùa khô 1977 – 1978 : 208
người

– mùa khô 1978 – 1979 : 256
người

– mùa khô 1979 – 1980 : 136
người

e) Tổ chức đào tạo cán bộ cửa
hàng thương nghiệp, lương thực xã kinh tế mới 560 người, trong đó :

– mùa khô 1977 – 1978 : 168
người

– mùa khô 1978 – 1979 : 256
người

– mùa khô 1979 – 1980 : 136
người

g) Đào tạo cán bộ hướng dẫn sản
xuất nông nghiệp xã kinh tế mới 700 người, trong đó :

– mùa khô 1977 – 1978 : 210
người

– mùa khô 1978 – 1979 : 320
người

– mùa khô 1979 – 1980 : 170
người

Chỉ tiêu kế hoạch đào tạo chung
phải đảm bảo, nhưng từng thời kỳ, kế hoạch từng địa bàn xây dựng có thể thay
đổi trong thực tiễn khi bắt tay vào thực hiện. Đây chỉ là số dự kiến để các
ngành căn cứ làm kế hoạch đào tạo.

2- Về phân công phụ trách:

a- Ủy ban Kế hoạch cùng với Ban
Kinh tế mới, Sở Tài chánh, Sở Lao động, Ban Tổ chức chánh quyền và các sở, ban,
ngành có trách nhiệm đào tạo, liên hệ với các tổ chức đoàn thể có liên quan,
lên kế hoạch đào tạo cán bộ từng ngành một cách toàn diện về chỉ tiêu, về thời
gian đào tạo, phương thức đào tạo, chất lượng, kinh phí, v.v… trình Ủy ban
nhân dân Thành phố duyệt kế hoạch đào tạo từng ngành một.

b- Các sở, ban chịu trách nhiệm
hướng dẫn tiêu chuẩn tuyển sinh. Các quận chịu trách nhiệm tuyển sinh theo số
lượng và tiêu chuẩn hướng dẫn trong số người chuẩn bị đưa đi kinh tế mới theo
khung tổ chức từng xã kinh tế mới của quận.

 

 

 

TM.
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH/THƯỜNG TRỰC

Lê Đình Nhơn

 

 

 

TM.
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH/THƯỜNG TRỰC

Lê Đình Nhơn

SOẠN HỢP ĐỒNG, ĐƠN, VĂN BẢN THEO YÊU CẦU CHỈ 500.000đ

--- Gọi ngay 1900.0191 ---

(Tư vấn Miễn phí - Hỗ trợ 24/7)

Công ty Luật LVN - Địa chỉ: Số 16B Nguyễn Thái Học, Yết Kiêu, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam

Gmail: luatlvn@gmail.com

ỦY
BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
——

CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
——–

Số:
68/CT-UB

Tp.
Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 11 năm 1977

 

CHỈ THỊ

VỀ
VIỆC TĂNG CƯỜNG KIỂM TRA HOẠT ĐỘNG KINH TẾ Ở MỘT SỐ CƠ SỞ SẢN XUẤT VÀ XÂY DỰNG
TRONG THÀNH PHỐ

Qua hai năm khôi phục, cải tạo
và phát triển kinh tế-văn hóa, Thành phố ta đã đạt được những thành tích to lớn
và cơ bản :

– Chúng ta đã hoàn thành việc
xóa bỏ tư sản mại bản và đấu tranh chống bọn đầu cơ gian thương, tịch thu tài
sản của bọn phản động trốn ra nước ngoài, tiến hành kiểm kê đăng ký kinh doanh
và trưng thu, trưng mua các hộ A và B, xóa bỏ tàn dư bóc lột phong kiến ở ngoại
thành tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến hành cải tạo quan hệ sản xuất, tổ
chức sắp xếp lại lực lượng sản xuất ở Thành phố trong thời gian sắp tới.

– Sản xuất công nghiệp và tiểu
thủ công nghiệp về cơ bản đã được khôi phục và từng bước đưa sản xuất tiểu thủ
công nghiệp sản xuất theo kế hoạch nhà nước. Sản xuất nông nghiệp trên đà phát
triển với tốc độ nhanh và toàn diện. Phong trào thủy lợi trở thành phong trào
của quần chúng sôi nổi và rộng khắp. Về giao thông vận tải bước đầu đã được tổ
chức sắp xếp lại do Nhà nước quản lý , điều hành, bảo đảm được các nhu cầu
thiết yếu, màng lưới thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã phát triển đến tận
phường, xã, công tác ngoại thương, du lịch, cung ứng tàu biển bước đầu thu được
một số kết quả. Về công tác đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật trong các
ngành đã thu được kết quả quan trọng.

– Công tác văn hóa, y tế, giáo
dục, thể dục thể thao phát triển thành phong trào quần chúng, đã giải quyết
được một bước tệ nạn xã hội.

Công tác kế hoạch hóa và quản
lý, chỉ đạo kinh tế dần dần đi vào nề nếp. Bộ máy quản lý kinh tế từng bước
được hình thành đến Quận , Huyện, và cơ sở sản xuất kinh doanh. Việc nắm tình
hình và xây dựng kế hoạch có tiến bộ. Công tác quản lý và chỉ đạo sản xuất,
kinh doanh ở các ngành, các cơ sở sản xuất từng bứoc được cải tiến và thu được
kết quả tốt…

Tuy nhiên, chúng ta còn những
khuyết điểm tồn tại về tổ chức, quản lý và chỉ đạo của các ngành, các cấp của
Thành phố.

– Về chỉ đạo của Ủy ban nhân dân
Thành phố chưa sát, chưa chặt chẽ, thiếu kiểm tra đôn đốc thường xuyên trong
việc thực hiện kế hoạch nhà nước, thiếu tập trung giải quyết những khâu then
chốt có ảnh hưởng đến việc thực hiện kế hoạch. Việc tổ chức, quản lý và chỉ đạo
của các ngành, các cấp còn nhiều tồn tại biểu hiện trên hai mặt : năng lực sản
xuất công nông nghiệp còn lớn, chưa tận dụng tốt; hiệu quả kinh tế của sản
xuất, kinh doanh còn thấp, tham ô lãng phí, nhất là lãng phí nghiêm trọng, tệ
quan liêu, giấy tờ, gây cản trở rất lớn cho sản xuất.

– Việc phân công trách nhiệm
chưa dứt khoát, thiếu cụ thể nhiều việc chồng chéo lẫn nhau.

– Hiệu lực chỉ đạo kém, còn
thiếu biện pháp cụ thể để thực hiện chủ trương và nghị quyết của Thành ủy và Ủy
ban nhân dân. Ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần chấp hành mệnh lệnh, các chế
độ, thể lệ, thủ tục quản lý không nghiêm túc. Tinh thần hợp tác xã hội chủ
nghĩa giữa các ngành, các cấp chưa tốt, còn bản vị, cục bộ gây khó khăn trở
ngại trong việc thực hiện kế hoạch.

– Bộ máy quản lý kinh tế nhiều
nơi còn yếu và kém. Công tác kế hoạch hóa còn bị coi nhẹ, hạch toán kinh tế
chưa làm hoặc làm chưa chặt chẽ. Nhiều cơ sở chưa tính toán hiệu quả kinh tế,
chưa quan tâm đúng mức đến năng suất lao động, định mức tiêu hao vật tư, kế
hoạch giá thành, và nộp ngân sách.

Do đó, thường vụ thành ủy và
thường trực Ủy ban Nhân dân thành phố giao nhiệm vụ cho các ngành, các cấp,
phải thường xuyên kiểm tra việc chấp hành chế độ quản lý, hạch toán kinh tế ở
các đơn vị cơ sở trực thuộc ngành mình trước mắt phải tiến hành kiểm tra có
trọng điểm một số cơ sở sản xuất, kinh doanh và xây dựng để rút ra những bài
học, kinh nghiệm nhằm cải tiến công tác tổ chức quản lý và chỉ đạo kinh tế phù
hợp với yêu cầu hai nghị quyết của Thành Ủy.

Về nội dung kiểm tra và đối
tượng kiểm tra quyết định như sau :

– Về nội dung kiểm tra Thường
trực Ủy ban nhân dân Thành phố giao Ủy ban Kế hoạch thành phố bàn cụ thể với
các cơ quan tổng hợp và các ngành xem xét đề ra nội dung thích hợp, chủ yếu là:

– Với các cơ sở sản xuất, kinh
doanh đi sâu phân tích hoạt động kinh tế: về sản xuất, lao động, tiền lương, sử
dụng tài sản cố định, định mức tiêu hao nguyên vật liệu, giá thành, giá cả,
tiêu thụ sản phẩm, chế độ gia công, thu mua và các yếu tố tác động đến hoạt
động xí nghiệp, đơn vị kinh doanh…

– Với các công trình xây dựng cơ
bản chủ yếu xem xét việc tổ chức, quản lý chỉ đạo, thi công đi sâu phân tích,
sử dụng vốn, vật tư, nhân công và đơn giá, khối lượng hoàn thành… Việc sử dụng
và quản lý các nhà thầu.

1-Về đối tượng kiểm tra :

Công tác kiểm tra và chấp hành
chế độ quản lý, hạch toán kinh tế ở các cơ sở là việc làm thường xuyên của các
ngành chủ quản.

Đợt này sẽ tập trung lực lượng
tổ chức kiểm tra một số cơ sở, trọng điểm sau đây :

-Ngành sản xuất : cơ khí Vĩnh
Hội, dệt 2P (kết hợp dệt thủ công Quận Tân bình), cao su Giải Phóng (Sở Công
nghiệp), tình hình sản xuất tiểu thủ công nghiệp Quận 6.

– Ngành xây dựng : Công ty xây
lắp I, Sở Xây dựng, Đội xáng công chính (Sở giao thông vận tải), kênh cấp II và
cầu cống từ Phạm Văn Hai đến Thái Mỹ (Sở Thủy Lợi), Cư xá Nguyễn Văn thoại (Sở
Xây Dựng).

– Ngành phục vụ : Công ty Vật tư
Nông nghiệp (Sở Nông nghiệp ), Công ty phân phối vận tải hàng hóa (Sở giao
thông Vận tải), Công ty sửa chữa nhà cửa Thành phố (Sở quản lý nhà đất), công
ty Bách hoá (Sở Thương nghiệp).

Để đảm bảo tốt công tác kiểm tra
theo chỉ thị này, và hoàn thành việc kiểm tra trước tháng 12/77. Ủy ban Nhân
Dân Thành phố quyết định tổ chức các đoàn kiểm tra như sau :

– Thành lập 3 đoàn cán bộ của Ủy
ban nhân dân thành phố gồm các ngành, các cơ quan tham gia. Yêu cầu các ngành
cử cán bộ có trình độ nghiệp vụ chuyên môn và gởi danh sách về Ủy ban kế hoạch
để tổng hợp. Từng đoàn hợp lại xác định nội dung và yêu cầu cụ thể. Thời gian
tiến hành kiểm tra phải hoàn thành trước ngày 20/12/1977.

– Về Ban chỉ đạo của Thành phố
do một đồng chí Phó chủ tịch phụ trách, trưởng ban. Thành viên gồm có các đồng
chí Giám đốc và Thủ trưởng các Ngành và cơ quan: Ủy ban kế hoạch Thành phố, Chi
cục Thống kê, Ủy ban vật giá, Ban tổ chức chính quyền, Ban Thanh tra, Sở Tài
chánh, Ngân hàng Thành phố, Ngân hàng kiến thiết thành phố, Sở Lao động, công
ty Vật tư tổng hợp, Ủy ban Nhân Dân Quận 6 và Tân Bình. Các Sở: Công nghiệp,
Nông nghiệp, Thủy lợi, Giao thông vận tải, Xây dựng, Quản lý nhà đất.

– Đây là một trong những nhiệm
vụ quan trọng và cấp bách đối với và công trình công cộng và Thương nghiệp.
Tình hình quản lý kinh tế của Thành phố hiện nay. Đề nghị các Ngành nghiêm túc
bàn biện pháp tích cực thực hiện.

 

 

Nơi gửi :
-Thành viên Ban chỉ đạo
kiểm tra hoạt động KT Thành phố
– Lưu

TM.
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH/THƯỜNG TRỰC

Lê Đình Nhơn

 

 

Nơi gửi :
-Thành viên Ban chỉ đạo
kiểm tra hoạt động KT Thành phố
– Lưu

TM.
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH/THƯỜNG TRỰC

Lê Đình Nhơn

SOẠN HỢP ĐỒNG, ĐƠN, VĂN BẢN THEO YÊU CẦU CHỈ 500.000đ

--- Gọi ngay 1900.0191 ---

(Tư vấn Miễn phí - Hỗ trợ 24/7)

Công ty Luật LVN - Địa chỉ: Số 16B Nguyễn Thái Học, Yết Kiêu, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam

Gmail: luatlvn@gmail.com

HỘI
ĐỒNG CHÍNH PHỦ
******

CỘNG
HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********

Số:
297-CP


Nội, ngày 11 tháng 11 năm 1977

 

NGHỊ QUYẾT

VỀ MỘT CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI TÔN GIÁO

Trong những năm qua, chính quyền các cấp và nhân
dân các địa phương đã chấp hành nghiêm chỉnh chính sách tôn giáo của Đảng và
Nhà nước. Đồng bào các tôn giáo đoàn kết chặt chẽ cùng toàn dân tích cực tham
gia công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Ngày nay, nước nhà đã hoàn toàn độc lập, thống
nhất và đang vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trước tình hình mới, để bảo đảm
quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân đồng thời ngăn ngừa những phần tử phản cách
mạng, những phần tử xấu lợi dụng tôn giáo, gây trở ngại cho công cuộc xây dựng
đất nước, nhất là ở những vùng mới giải phóng, căn cứ vào sắc lệnh số 234-SL
ngày 14 tháng 06 năm 1955, Hội đồng Chính phủ quyết định những nguyên tắc và
chính sách cụ thể đối với tôn giáo như sau,

I. NHỮNG NGUYÊN TẮC CHUNG 

1. Chính phủ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và
quyền tự do không tín ngưỡng của nhân dân.

2. Các nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo đều được
hưởng mọi quyền lợi và phải làm mọi nghĩa vụ của người công dân.

3. Các tôn giáo và mọi công dân theo đạo hoặc
không theo đạo đều bình đẳng trước pháp luật.

4. Các tôn giáo phải tuân theo Hiến pháp, pháp
luật và chủ trương, chính sách, thể lệ của Nhà nước trong mọi lĩnh vực hoạt động
của mình.

5. Những kẻ lợi dụng tôn giáo để phá hoại nền độc
lập của Tổ quốc, chống lại chế độc xã hội chủ nghĩa, phá hoại khối đoàn kết
toàn dân, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân, chống lại các chính sách và
pháp luật của Nhà nước sẽ bị pháp luật nghiêm trị.

II. MỘT SỐ CHÍNH SÁCH CHÍNH
SÁCH CỤ THỂ

1. Đối với các hoạt động tôn giáo:

a) Tín đồ và nhà tu hành được hoạt động tôn giáo
bình thường ở những nơi thờ cúng, nhưng phải tôn trọng pháp luật của Nhà nước,
không gây trở ngại cho việc giữ gìn trật tự trị an, cho sản xuất và sinh hoạt
bình thường của tín đồ.

Mỗi công dân được tự do tham gia hoặc không tham
gia các hoạt động tôn giáo, không ai có quyền cưỡng ép người khác phải tham gia
hoặc không được tham gia các hoạt động đó.

Ngoài những cuộc hành lễ thông thường, những hoạt
động tôn giáo sau đây phải xin phép Ủy ban nhân dân xã, huyện hoặc tỉnh, thành
phố:

– Những cuộc hành lễ có đông người từ các nơi
khác đến dự,

– Những lớp giáo lý,

– Những cuộc hội họp của các tôn giáo như Khóa hạ
và Đại hội của Phật giáo: đại hội đồng của Tin lành, cấm phòng linh mục của
Thiên chúa giáo, v.v…

b) Những nhà tu hành và những người chuyên hoạt
động tôn giáo được tự do giảng đạo tại nơi thờ cúng và trong các cơ quan tôn
giáo. Khi truyền bá tôn giáo, ngoài việc giảng giáo lý, các nhà tu hành còn có
nhiệm vụ động viên tín đồ làm tốt nghĩa vụ công dân và chấp hình tốt chính
sách, pháp luật của Nhà nước; không được tuyên truyền chống chế độ xã hội chủ
nghĩa, chống chính quyền, chống chính sách, pháp luật của Nhà nước, không được
tuyên truyền chia rẽ đoàn kết dân tộc, tôn giáo, tuyên truyền mê tín dị đoan.

2. Đối với nơi thờ cúng:

a) Những nơi thờ cúng của các tôn giáo được Nhà
nước bảo hộ;

b) Những nơi thờ cúng đã bỏ không từ lâu không
có người tu hành hoặc người chuyên trách, không có nhân dân đến lễ bái thì Ủy
ban nhân dân cấp cơ sở có trách nhiệm quản lý, khi cần thiết có thể mượn làm
trường học, nơi hội họp v.v… nhưng phải giữ gìn chu đáo, không được dùng vào những
việc xúc phạm đến tình cảm và tín ngưỡng của nhân dân; những nơi thờ cúng quá
hư hỏng chính quyền muốn dỡ đi thì phải được nhân dân đồng tình và Ủy ban nhân
dân cấp trên đồng ý.

3. Về việc đào tạo, bổ nhiệm, thuyên chuyển những
người chuyên hoạt động tôn giáo:

a) Các tôn giáo được mở trường lớp đào tạo những
người chuyên hoạt động tôn giáo của mình. Những người được tuyển chọn để đào tạo
phải là những người có tư cách công dân, có tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa
xã hội. Khi mở trường lớp, các tôn giáo phải xin phép Ủy ban nhân dân tỉnh hoặc
cấp trung ương và tuân theo những quy định sau đây:

– Học sinh được tuyển để đào tạo phải do Ủy ban
nhân dân cấp cơ sở nơi quê quán hoặc nơi đang ở, xác nhận là công dân tốt,
không vi phạm pháp luật;

– Những người phụ trách giảng dạy trong các trường
lớp tôn giáo phải được Ủy ban nhân dân tỉnh hoặc cấp tương đương chấp thuận;

 – Nội dung giảng dạy về tôn giáo không được
trái pháp luật, chủ trương, chính sách của Nhà nước ;

– Nếu các trường lớp này có dạy thêm văn hóa thì
phải theo chương trình của Bộ Giáo dục nhưng có châm chước. Các Sở, Ty Giáo dục
có trách nhiệm xem xét chương trình, nội dung giảng dạy và tổ chức việc phổ biến
thời, sự, chính sách cho học sinh.

b) Việc phong chức, bổ nhiệm những người chuyên
hoạt động tôn giáo (kể cả những người do tín đồ bầu ra) phải được chính quyền
chấp thuận trước. Tùy theo phạm vi hoạt động tôn giáo của những người này trong
một xã, huyện tỉnh hoặc thành phố mà Ủy ban nhân dân xã, huyện tỉnh hoặc thành
phố chấp thuận. Nếu phạm vi hoạt động tôn giáo bao gồm nhiều tỉnh, thì phải do
Thủ tướng Chính phủ quyết định.

c) Việc thuyên chuyển những người chuyên hoạt động
tôn giáo từ nơi này đến nơi khác phải được sự chấp thuận trước của Ủy ban nhân
dân nơi đến.

d) Tùy theo sự cần thiết, các nhà tu hành có thể
có một số người là tín đồ giúp việc trong hoạt động tôn giáo, những người này
phải được Ủy ban nhân dân cấp cơ sở chấp thuận.

4. Về tài liệu và đồ dùng về đạo của các tôn
giáo:

Các tổ chức tôn giáo được xuất bản những tài liệu
tôn giáo và sản xuất những đồ thờ cúng nhưng phải tuân theo chế độ chung của
Nhà nước (chế độ xuất bản, chế độ sản xuất các mặt hàng thủ công nghiệp …). Nếu
muốn nhập những thứ ấy từ nước ngoài vào thì phải theo thể lệ của Nhà nước và
phải được phép của các cơ quan quản lý (Bộ Văn hóa, Cục hải quan trung ương).

5. Đối với các cơ sở kinh tế, văn hóa, giáo dục,
xã hội của các tôn giáo:

a) Đối với những cơ sở kinh tế của tôn giáo kinh
doanh theo lối tư bản chủ nghĩa hoặc phong kiến thì Nhà nước sẽ tiến hành việc
cải tạo theo chính sách chung hiện hành, có sự chiếu cố đến tôn giáo.

b) Ruộng đất của tôn giáo được để lại sau cải cách
ruộng đất có thể giao cho hợp tác xã quản lý; hợp tác xã trả hoa lợi cho nhà thờ,
nhà chùa, thánh thất với mức từ 25% đến 30% tổng số thu hoạch của ruộng đất đó.

c) Các cơ sở văn hóa, giáo dục, xã hội của tôn
giáo phải tuân theo quy định chung của Nhà nước.

6. Vấn đề quan hệ giữa các tổ chức tôn giáo
trong nước với các tổ chức tôn giáo quốc tế và nước ngoài:

a) Các tổ chức tôn giáo hoặc người hoạt động tôn
giáo trong nước muốn quan hệ với các tổ chức khác, hoặc với người nước ngoài
thì phải tuân theo những quy định của Nhà nước về quan hệ với người nước ngoài.

b) Giáo hội Thiên chúa được quan hệ với Vatican
về mặt tôn giáo, nhưng phải tôn trọng chủ quyền quốc gia và pháp luật và Nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Khi một giáo sĩ Việt Nam được Vatican lựa
chọn phong từ chức giám mục trở lên, thì giáo hội thiên chúa phải báo cáo để được
sự chấp thuận trước của Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

c) Những tài liệu tôn giáo từ các tổ chức tôn
giáo ở nước ngoài gửi cho các tổ chức tôn giáo nếu có điều gì trái pháp luật,
chính sách của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì các tổ chức tôn
giáo không được phổ biến và thực hiện. 

III. TRÁCH NHIỆM CỦA CHÍNH
QUYỀN CÁC CẤP
 

Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm phối hợp
với Mặt trận và các cơ quan có liên quan tại địa phương, bảo đảm cho nhân dân
thực hiện đầy đủ quyền tự do tín ngưỡng và quyền tự do không tín ngưỡng của
mình:

– Tuyên truyền, giải thích, phổ biến rộng rãi
cho nhân dân, cho các tín đồ và nhà tu hành, cho cán bộ các cấp, nhất là ở cấp
cơ sở, tinh thần và nội dung của các văn bản của Nhà nước về việc bảo đảm quyền
tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân;

– Giúp đỡ tạo điều kiện cho các tín đồ và nhà tu
hành trong việc thực hiện quyền tự do ấy;

– Ngăn cấm những việc lợi dụng danh nghĩa tôn
giáo để kích động quần chúng chống lại chính quyền, chống lại chế độ làm trái
pháp luật của Nhà nước, ngăn cấm những kẻ có những hành vi xâm phạm đến quyền tự
do tín ngưỡng và quyền tự do không tín ngưỡng của nhân dân.

Ban tôn giáo Phủ thủ tướng có trách nhiệm hướng
dẫn các tôn giáo thi hành và xem xét, đôn đốc việc thực hiện của các cấp chính
quyền.

 

T.M. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ


Phạm Văn Đồng

 

SOẠN HỢP ĐỒNG, ĐƠN, VĂN BẢN THEO YÊU CẦU CHỈ 500.000đ

--- Gọi ngay 1900.0191 ---

(Tư vấn Miễn phí - Hỗ trợ 24/7)

Công ty Luật LVN - Địa chỉ: Số 16B Nguyễn Thái Học, Yết Kiêu, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam

Gmail: luatlvn@gmail.com

ỦY
BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
———

CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
———–

Số:
610/QĐ-UB

Tp.
Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 11 năm 1977

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ
VIỆC XÂY DỰNG NGHĨA TRANG LIỆT SĨ THÀNH PHỐ

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH

– Căn cứ vào Luật tổ chức Hội
đồng nhân dân và Ủy ban hành chánh các cấp ngày 27-10-1962 ;
– Theo đề nghị của đồng chí Giám đốc Sở Thương binh và xã hội Thành phố Hồ Chí
Minh,

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1.– Tiến hành xây
dựng nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố đặt tại đồi đối diện khu đại học Thủ Đức
thuộc xã Long Bình, huyện Thủ Đức.

Điều 2.– Thành lập Ban
chỉ đạo xây dựng Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố gồm :

– Đồng chí Lê Quang Chánh, Phó
Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố : Trưởng ban,

– Đồng chí Đỗ Duy Liên, Giám đốc
Sở Thương binh và xã hội : Phó ban/Thường trực,

– Đại diện Ủy ban Kế hoạch Thành
phố, Ủy viên,

– Đại diện Sở Xây dựng, Ủy viên,

– Đại diện Viện Quy hoạch Thành
phố, Ủy viên,

– Đại diện Sở Văn hóa và thông
tin, Ủy viên,

– Đại diện Bộ Tư lệnh Thành phố,
Ủy viên,

– Đại diện Đoàn Thanh niên cộng
sản Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy viên.

Điều 3.– Tổ chức đợt thi
vẽ đồ án Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố có Hội đồng chấm thi, có phần thưởng.
Các đồ án dự thi sẽ được triển lãm để thâu thập ý kiến quần chúng trước khi
hoàn chỉnh lại thành một đồ án chính thức của tập thể.

Điều 4.– Kinh phí xây
dựng Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố do Bộ Thương binh và xã hội cấp, (theo quyết
định số 60-CP ngày 5-4-1976 của Hội đồng Chính phủ) Sở Thương binh và xã hội
lập dự toán kinh phí cho toàn bộ công trình xây dựng trình Ủy ban nhân dân
Thành phố thông qua và báo cáo lên Bộ Thương binh và xã hội.

Điều 5.– Sở Xây dựng chịu
trách nhiệm việc thi công. Ngoài ra Bộ Tư lệnh Thành phố, Đoàn Thanh niên cộng
sản Hồ Chí Minh Thành phố, Sở Lao động phối hợp với các đoàn thể huy động lực
lượng nghĩa vụ lao động của nhân dân để tham gia xây dựng.

Điều 6.– Các đồng chí
Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố, các sở, ban, ngành và các đồng chí
có tên trong điều 2, Giám đốc Sở Tài chánh, Giám đốc Sở Nông nghiệp, Giám đốc
Sở Lao động có trách nhiệm thi hành quyết định này.

 

 

 

TM.
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH

Võ Thành Công

  

 

 

TM.
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH

Võ Thành Công

SOẠN HỢP ĐỒNG, ĐƠN, VĂN BẢN THEO YÊU CẦU CHỈ 500.000đ

--- Gọi ngay 1900.0191 ---

(Tư vấn Miễn phí - Hỗ trợ 24/7)

Công ty Luật LVN - Địa chỉ: Số 16B Nguyễn Thái Học, Yết Kiêu, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam

Gmail: luatlvn@gmail.com

HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********

Số: 299-CP

Hà Nội, ngày 14 tháng 11 năm 1977

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ VIỆC THÀNH LẬP VỤ ĐÀO TẠO TRỰC THUỘC BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI

HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ vào Luật tổ chức Hội đồng Chính phủ ngày 14-7-1960;
Căn cứ nghị định số 158-CP ngày 4-7-1974 của Hội đồng Chính phủ quy định cơ cấu tổ chức bộ máy của Bộ Giao thông vận tải;
Xét đề nghị của đồng chí Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải.

QUYẾT ĐỊNH :

Điều 1. – Nay thành lập Vụ đào tạo trực thuộc Bộ Giao thông vận tải (trên cơ sở bộ phận đào tạo của Vụ cán bộ tách ra).

Điều 2. – Vụ đào tạo là cơ quan giúp Bộ trưởng chỉ đạo công tác kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công nhân trong toàn ngành; tổ chức thực hiện kế hoạch đó theo đúng đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước.

Điều 3. – Vụ đào tạo do một vụ trưởng phụ trách và một phó vụ trưởng giúp việc.

Đồng chí Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Vụ đào tạo trên nguyên tắc tinh giản bộ máy, tổ chức gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả thiết thực (Vụ không tổ chức phòng).

Điều 4. – Đồng chí Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải có trách nhiệm thi hành quyết định này.

 

T.M. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
K.T. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
PHÓ THỦ TƯỚNG


Phạm Hùng

 

SOẠN HỢP ĐỒNG, ĐƠN, VĂN BẢN THEO YÊU CẦU CHỈ 500.000đ

--- Gọi ngay 1900.0191 ---

(Tư vấn Miễn phí - Hỗ trợ 24/7)

Công ty Luật LVN - Địa chỉ: Số 16B Nguyễn Thái Học, Yết Kiêu, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam

Gmail: luatlvn@gmail.com

ỦY
BAN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
——-

CỘNG
HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
———

Số:
612/QĐ-UB

Tp.
Hồ Chí Minh, ngày 16 tháng 11 năm
1977

 

QUYẾT ĐỊNH

BAN HÀNH “BẢN QUY ĐỊNH TẠM
THỜI VỀ PHÂN CÔNG QUẢN LÝ GIỮA CÁC SỞ, BAN, NGÀNH CỦA THÀNH PHỐ VÀ PHÂN CẤP QUẢN
LÝ GIỮA CẤP THÀNH PHỐ VÀ CẤP QUẬN, HUYỆN”

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

– Căn cứ vào Luật
tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chánh các cấp ngày 27-10-1962 ;

– Căn cứ Bản Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của chính quyền
Nhà nước cấp tỉnh trong lĩnh vực quản lý kinh tế, ban hành kèm theo nghị định
số 24-CP, ngày 2-2-1976 của Hội đồng Chính phủ ;

– Căn cứ nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố lần thứ nhất, đã đề
ra phương hướng phân công, phân cấp quản lý ở thành phố ;

– Để ổn định dần từng bước việc phân công và phân cấp quản lý các mặt kinh
tế, văn hoá, xã hội, song song với việc triển khai công tác cải tạo xã hội chủ
nghĩa và cải tiến, xây dựng ổn định dần tổ chức và quản lý kinh tế của Thành
phố,

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1.- Nay ban
hành, kèm theo quyết định này, “Bản quy định tạm thời về phân công quản lý giữa
các sở, ban, ngành của Thành phố và phân cấp quản lý giữa cấp Thành phố và cấp
quận, huyện”.

Điều 2.– Các sở,
ban, ngành trực thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố, trong phạm vi trách nhiệm của
mình, phải quán triệt và cụ thể hóa những điều quy định này trong Bản quy định
về tổ chức và hoạt động của cơ quan mình trong việc phân cấp quản lý cụ thể cho
các phòng chuyên môn thuộc ngành mình ở quận, huyện.

Ủy ban nhân dân các quận, huyện phải quán triệt
và cụ thể hóa những điều quy định này trong việc lãnh đạo, chỉ đạo các phòng
chuyên môn trực thuộc Ủy ban và trong công tác thực tiễn.

Ban Tổ chức chánh quyền giúp Ủy ban nhân dân
Thành phố tổ chức thực hiện, kiểm tra, đôn đốc các ngành, các cấp nghiêm chỉnh
thực hiện Bản Quy định tạm thời này và kịp thời sơ kết, tổng kết báo cáo Ủy ban
nhân dân Thành phố bổ sung cho hoàn chỉnh.

Điều 3.- Các đồng
chí Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố, Trưởng Ban Tổ chức chánh quyền,
thủ trưởng các sở, ban, ngành trực thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố, Chủ tịch Ủy
ban nhân dân các quận, huyện có trách nhiệm thi hành quyết định này.

 

 

 

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ
Q. CHỦ TỊCH

Mai Chí Thọ

 

BAN QUY ĐỊNH TẠM THỜI

VỀ
PHÂN CÔNG QUẢN LÝ GIỮA CÁC SỞ, BAN, NGÀNH CỦA THÀNH PHỐ VÀ PHÂN CẤP QUẢN LÝ
GIỮA CẤP THÀNH PHỐ VÀ CẤP QUẬN, HUYỆN
(Ban hành kèm theo quyết định số 612/QĐ-UB ngày 16-11-77 của Ủy ban nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh)

I.- NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
VỀ NGUYÊN TẮC VÀ YÊU CẦU CỦA VIỆC PHÂN CÔNG VÀ PHÂN CẤP QUẢN LÝ

A.- Dựa trên cơ sở thực hiện
nguyên tắc “tập trung dân chủ” và nguyên tắc “quản lý theo ngành kết hợp với
quản lý theo địa phương, vùng lãnh thổ”, việc phân công quản lý giữa các sở,
ban, ngành của Thành phố và phân cấp quản lý giữa cấp Thành phố và cấp quận,
huyện phải được vận dụng theo các nguyên tắc cụ thể như sau :

1) Tăng cường sự lãnh đạo tập trung và quản
lý thống nhất của Thành ủy, Ủy ban nhân dân Thành phố đối với toàn bộ nền kinh tế
và các mặt công tác chính trị, văn hóa, xã hội của Thành phố.

Đồng thời phân cấp quản lý rộng rãi cho cấp
quận, huyện, phường, xã đi đôi với việc củng cố, tăng cường nhằm bảo đảm điều
kiện cho quận, huyện, phường, xã phát huy tính chủ động sáng tạo, tích cực quản
lý, khai thác, sử dụng tốt mọi khả năng tiềm tàng, để phát triển kinh tế, văn
hóa, xã hội của địa phương, đẩy mạnh sản xuất, phục vụ đời sống nhân dân tốt
nhất và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng góp của quận, huyện đối với sự nghiệp
phát triển kinh tế, đời sống của toàn thành phố.

2) Các sở, ban, ngành của thành phố là cơ quan
chuyên môn của Ủy ban nhân dân Thành phố, có chức năng quản lý Nhà nước (quản
lý hành chánh – kinh tế) đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác trong phạm vi
toàn thành phố, từ cấp thành phố đến quận, huyện, phường, xã, cơ sở sản xuất,
kinh doanh, sự nghiệp đồng thời có trực tiếp quản lý các cơ sở quốc doanh, công
tư hợp doanh lớn, quan trọng.

Nội dung chính về quản lý hành chính – kinh
tế của sở, ban, ngành thành phố gồm :

– Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành
hay lĩnh vực công tác trong phạm vi thành phố.

– Nghiên cứu cụ thể hóa các chính sách, chế
độ, tiêu chuẩn, định mức của Trung ương vận dụng vào thành phố, đồng thời xây
dựng các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức của ngành mà Trung ương chưa
ban hành để áp dụng trong thành phố.

– Thực hiện đường lối, chính sách kinh tế –
kỹ thuật thống nhất trong ngành, chỉ đạo công tác nghiên cứu phát triển khoa học
– kỹ thuật trong ngành.

– Quyết định các biện pháp thực hiện, điều
hoà phối hợp công tác của các đơn vị trong ngành, của các quận, huyện để bảo đảm
hoàn thành kế hoạch Nhà nước và các nhiệm vụ công tác của ngành.

– Tổ chức bồi dưỡng, đào tạo, xây dựng đội
ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật và nghiệp vụ lành nghề cho ngành.

– Kiểm tra, thanh tra các ngành, các cấp, các
đơn vị cơ sở về những vấn đề thuộc phạm vi trách nhiệm được giao.

3) Quản lý bao gồm cải tạo và xây dựng, vì
vậy các ngành, các cấp phải có trách nhiệm cải tạo xã hội chủ nghĩa đồng thời với
việc tổ chức lại sản xuất, kinh doanh, phân công lại lao động một cách hợp lý
đối với phạm vi và đối tượng thuộc quyền quản lý của mình.

4) Chính quyền quận, huyện là một cấp chính
quyền Nhà nước vừa thực hiện chức năng quản ý hành chính Nhà nước, vừa thực
hiện quản lý kinh tế (có mức độ khác nhau giữa huyện ngoại thành và quận nội
thành) và tổ chức quản lý đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân trong địa
bàn quận huyện.

Huyện ngoại thành là một cấp kế hoạch toàn
diện, sẽ có ngân sách thu chi theo chính sách, chế độ của Nhà nước. Huyện ngoại
thành trực tiếp tổ chức và quản lý nông nghiệp, cải tạo, xây dựng, tổ chức lại sản
xuất nông nghiệp, đưa nông dân theo con đường làm ăn tập thể đi lên sản xuất
lớn xã hội chủ nghĩa. Đi theo sản xuất nông nghiệp cần có những ngành, những cơ
sở phục vụ nông nghiệp, để tạo thành một cơ cấu nông – công nghiệp của huyện.
Các cơ sở này có quy mô hợp lý, gồm: hệ thống thủy nông, trạm máy kéo, xưởng cơ
khí sửa chữa máy móc và nông cụ, trại nhân giống cây, giống con, trạm thú y, cơ
sở chế biến nông sản, trạm cung ứng vật tư, màng lưới thu mua, hệ thống giao
thông vận tải, lực lượng xây dựng cơ bản, màng lưới cơ sở phục vụ đời sống vật
chất, văn hóa và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong huyện… (tùy theo điều kiện,
tính chất và quy mô mà phân cấp cho cấp huyện trực tiếp quản lý đối với các cơ
sở này ; nói chung, các cơ sở này chủ yếu là do huyện quản lý).

Quận nội thành không thực hiện hoàn toàn chức
năng của một cấp quản lý kế hoạch toàn diện và có ngân sách như huyện ngoại
thành, nhưng nó cũng là một cấp quản lý hành chính- kinh tế, được phân cấp quản
lý kinh tế với mức độ nhất định, cũng có phần quản lý sản xuất kinh doanh theo
kế hoạch của Thành phố và được sử dụng ngân sách do Thành phố phân phối. Quận
nội thành trực tiếp tổ chức và quản lý tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp, cải
tạo, xây dựng và tổ chức lại sản xuất tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp theo
con đường hợp tác hóa xã hội chủ nghĩa ; tổ chức và quản lý màng lưới phân
phối. Đồng thời, có trách nhiệm hợp tác giúp cho các ngành, sở cấp trên quản lý
tốt các cơ sở do ngành, sở đó chủ quản nằm trong địa phương mình.

5) Việc phân công và phân cấp quản lý nhằm
tăng cường trách nhiệm của mỗi ngành, mỗi cấp, nó không tách rời với việc thực hiện
nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo địa phương trong toàn bộ
hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội của Thành phố. Các sở, ban, ngành của Thành
phố có trách nhiệm quản lý ngành theo chức năng của mình, đồng thời có trách
nhiệm và biện pháp giúp đỡ tích cực các quận, huyện, thực hiện tốt từng mặt
quản lý của ngành mình, hoàn thành kế hoạch Nhà nước và nhiệm vụ được giao.
Mặt
khác, các quận, huyện cũng có trách nhiệm và biện pháp hợp tác chặt chẽ với sở,
ban, ngành giúp các bộ phận này thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý ngành.

Toàn bộ tổ chức và hoạt động của cơ quan chính
quyền cấp Thành phố và cấp quận, huyện phải tập trung vào việc chỉ đạo, hướng
dẫn, giúp đỡ, phục vụ thiết thực cho các đơn vị sản xuất, kinh doanh và các đơn
vị sự nghiệp, xây dựng và phát triên cơ sở mình theo đúng đường lối cải tạo và
xây dựng xã hội chủ nghĩa của Đảng và Nhà nước.

B.- Tiến hành việc phân
công và phân cấp quản lý phải đạt được các yêu cầu sau đây :

1) Phải tạo mọi điều kiện thuận lợi để bảo
đảm các đơn vị cơ sở hoạt động liên tục, đạt hiệu suất công tác cao và hiệu quả
kinh tế lớn.

2) Kiên quyết khắc phục tình trạng quản lý
tập trung quan liêu, đồng thời cũng phải khắc phục cho được tình trạng phân tán,
tản mạn, cục bộ, chồng chéo, trùng lắp, bỏ sót, buông lỏng, thiếu sự hợp tác xã
hội chủ nghĩa. Mọi sự phân công, phân cấp không rõ ràng hợp lý cũng như mọi
hoạt động đơn độc, không đồng bộ, thiếu hợp tác xã hội chủ nghĩa đều đã và sẽ
gây trở ngại và làm hạn chế rất lớn cho kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh,
tạo kẽ hở cho giai cấp tư sản lợi dụng đầu cơ tích trữ lũng đoạn thị trường,
phá hoại công cuộc cải tạo và xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa.

3) Bảo đảm toàn bộ hoạt động chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội của Thành phố, xuyên suốt từ trên xuống dưới, nhịp nhàng,
đồng bộ, dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Thành ủy và dưới sự chỉ đạo
quản lý tập trung, thống nhất của Ủy ban nhân dân Thành phố.

C.- Phân công quản lý giữa các sở, ban, ngành
của Thành phố và phân cấp quản lý giữa cấp Thành và cấp quận, huyện trong điều
kiện thành phố mới giải phóng, chưa qua cải tạo xã hội chủ nghĩa là việc làm
mới mẻ và phức tạp. Hai năm qua chúng ta đã làm từng phần, lần này thực hiện
việc phân công và phân cấp một cách đồng bộ và toàn diện hơn. Chúng ta vẫn phải
vừa làm, vừa rút kinh nghiệm để bổ sung, sửa đổi cho thích hợp với bước đi lên
trong quá trình cải tạo và xây dựng xã hội chủ nghĩa ở thành phố. Vì vậy phải
tổ chức thực hiện việc phân công, phân cấp quản lý theo phương châm :

1) Thận trọng, vững chắc, nhưng phải nhanh,
gọn và bảo đảm tính liên tục hoạt động của mọi tổ chức, tránh buông lỏng, gượng
ép, máy móc, thoát ly điều kiện và khả năng thực tế của các ngành và các quận,
huyện. Cần làm dứt điểm nhanh, trước hết ở các trọng điểm, để tạo điều kiện
thuận lợi cho việc cải tạo xã hội chủ nghĩa và tổ chức lại sản xuất, kinh
doanh, phân bố lại lao động trong toàn thành phố.

2) Trên cơ sở thực trạng cơ cấu tổ chức quản
lý của ta hiện nay mà cải tiến, sửa đổi sự phân công cho hợp lý hơn và chấn
chỉnh dần bộ máy tổ chức quản lý phù hợp với đặc điểm tình hình và chức năng
nhiệm vụ của từng ngành.

3)Vừa tiến hành phân công, phân cấp quản lý,
đồng thời, vừa phải tích cực phát huy đúng mức tinh thần hợp tác xã hội chủ nghĩa.

4) Các sở, ban, ngành và Ủy ban nhân dân các
quận, huyện cần xác định rõ vai trò, vị trí của mình trong hệ thống tổ chức quản
lý của Thành phố để quy định sự phân cấp quản lý cụ thể phù hợp với điều kiện
thực tế của địa phương, trên cơ sở nguyên tắc và hướng phân cấp quy định trong
văn bản này.

5) Trong phạm vi chức năng, quyền hạn của mình,
quận, huyện sẽ phân công một số mặt quản lý cụ thể cho phường, xã phụ trách,
nhằm phát huy tối đa sức mạnh tổng hợp của hệ htống chính quyền chuyên chính vô
sản, trên cơ sở tổ chức thực hiện đầy đủ chủ tương, chính sách của cấp trên,
bảo đảm quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động.

II. NỘI DUNG PHÂN
CÔNG QUẢN LÝ GIỮA CÁC SỞ, BAN, NGÀNH Ở THÀNH PHỐ VÀ PHÂN CẤP QUẢN LÝ GIỮA CẤP
THÀNH PHỐ VỚI CẤP QUẬN, HUYỆN

1/ QUẢN LÝ NGÀNH CÔNG NGHIỆP
:

a/ Sở Công nghiệp, thông qua các công ty, các
phòng công nghiệp quận, huyện, có trách nhiệm quản lý hành chính – kinh tế các
ngành công nghiệp (bao gồm công nghiệp, tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp)
sau đây : chế tạo cơ khí và các sản phẩm bằng kim loại ; hóa chất hữu cơ, vô
cơ, cao su, chất dẻo ; sành sứ, thủy tinh ; chế biến thực phẩm ; dệt, da, may
mặc và các loại hàng công nghệ phẩm khác.

Sở thông qua các công ty, trực tiếp quản lý
các xí nghiệp quốc doanh, công tư hợp doanh và một số xí nghiệp tư doanh thuộc
đối tượng trong diện cải tạo, sau đây :

– Các xí nghiệp chế tạo cơ khí và chế tạo các
sản phẩm bằng kim loại, gồm : thiết bị, máy móc sản xuất và linh kiện ; thiết
bị máy móc về điện, điện tử và thông tin ; tàu cá, tàu hút bùn ; thiết bị máy
móc đông lạnh ; sản xuất và lắp ráp radio, tivi, đồng hồ, máy may, quạt điện và
các loại dụng cụ đồ điện ; môtô, xe đạp ; các loại phụ tùng ô tô, mô tô, xe đạp
và phụ tùng máy móc thiết bị khác.

(Trừ một số xí nghiệp cơ khí sản xuất và sửa
chữa chuyên dùng của các ngành giao thông vận tải, nông nghiệp, xây dựng, thủy
sản, thủy lợi … và các xưởng cơ khí huyện ngoại thành).

– Các xí nghiệp sản xuất hóa chất hữu cơ, vô
cơ (trừ phân bón do Sở Nông nghiệp quản lý), cao su, nhựa, chất dẻo.

– Các xí nghiệp sản xuất sành sứ, gốm, thủy
tinh (trừ xí nghiệp chuyên sản xuất kính phục vụ xây dựng do Sở Xây dựng quản
lý).

– Các xí nghiệp chế biến thực phẩm : đường,
sữa, bột ngọt, đồ hộp, rượu, bia, nước ngọt, dầu ăn, tinh dầu cho công nghiệp,
bột trẻ em (loại quy mô lớn).

(Trừ các xưởng chế biến nước mắm và các loại
hải sản khác và chế biến các loại thực phẩm đem tiêu thụ ngay không để lâu dược
do Sở Thương nghiệp quản lý).

– Các xí nghiệp dệt, hồ, nhuộm, in hoa, thuộc
da và sản xuất giầy da, đồ dùng bằng da ; các xí nghiệp may mặc lớn (chuyên may
sẵn hàng loạt cho xuất khẩu, quần áo bảo hộ lao động, may cho lực lượng vũ
trang) và các xí nghiệp sản xuất phụ tùng, phụ kiện cho ngành dệt, da, may mặc.

– Các xí nghiệp sản xuất các loại hàng công
nghệ phẩm khác : dụng cụ y tế bằng kim loại, cao su, chất dẻo và thủy tinh ;
dụng cụ đồ dùng cho học sinh và giảng dạy ; dụng cụ đồ dùng thể dục thể thao ;
đồ chơi trẻ em, hàng trang sức, mỹ phẩm và các loại hàng công nghệ phẩm tiêu dùng
khác thuộc cỡ lớn.

– Các xí nghiệp đại tu máy công cụ cắt gọt,
máy động lực, máy bơm nước ; các xưởng sửa chữa, tân trang các loại máy đông
lạnh.

b/ Quận, huyện :

Quận nội thành quản lý tất cả các cơ
sở sản xuất của hợp tác xã, tổ sản xuất, cá thể tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp,
cải tạo, xây dựng và tổ chức lại sản xuất tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp
theo con đường hợp tác hóa xã hội chủ nghĩa.

– Được Ủy ban nhân dân Thành phố phân cấp quản
lý một số xưởng quốc doanh và công tư hợp daonh quy mô nhỏ, có quy trình công
nghệ đơn giản, hoặc cơ sở quốc doanh sản xuất các mặt hàng phục vụ trong phạm
vi không lớn lắm (như may mặc, đường, bánh, mứt, kẹo, nước ngọt, bột trẻ em..).

Huyện ngoại thành quản lý các việc như
quận nội thành, còn quản lý thêm các xí nghiệp quốc doanh và công tư hợp doanh
chế biến nông sản (các xưởng đường, dầu ăn, chế biến rau quả,…) và xưởng cơ khí
huyện.

2/ QUẢN LÝ NGÀNH NÔNG NGHIỆP
:

a/ Sở Nông nghiệp có trách nhiệm quản lý hành
chính – kinh tế toàn bộ sản xuất nông nghiệp của Thành phố và một số mặt sản
xuất, kinh doanh trực tiếp phục vụ nông nghiệp.

Sở Nông nghiệp trực tiếp quản lý các mặt cụ
thể như sau :

– Quản lý toàn bộ ruộng đất canh tác của
Thành phố.

– Tổ chức khai hoang, phục hóa, xây dựng và
quản lý các nông trường quốc doanh của Thành phố.

– Quản lý các trạm trại giống cây, giống con
cấp I. Tổ chức thu mua và ươm tạo các loại giống nông nghiệp để cung cấp cho
các huyện và quận.

– Quản lý các cơ sở quốc doanh, công tư hợp
doanh lớn chăn nuôi gia sức, gia cầm, ong, cá nưóc ngọt ở các vùng sông, đầm rộng,
hồ lớn.

– Quản lý trạm máy cày, máy kéo phục vụ cho
các nông trường quốc doanh lớn ; các xí nghiệp quốc doanh, công tư hợp doanh
sửa chữa lớn máy móc nông nghiệp.

– Quản lý phân phối vật tư nông nghiệp thiết
yếu theo nhu cầu kế hoạch sản xuất nông nghiệp, gồm : phân bón, thuốc trừ sâu,
thuốc thú y, thức ăn gia súc, máy móc, công cụ nông nghiệp và các thứ nguyên
vật liệu chuyên dùng cho nông nghiệp.

– Quản lý các xí nghiệp quốc doanh, công tư
hợp doanh sản xuất phân hữu cơ, phân rác, nghiền đá vôi, vỏ sò ốc và apatit, pha
trộn phân hóa học.

– Quản lý các cơ sở quốc doanh, công tư hợp
doanh sản xuất thuốc trừ sâu, thuốc thú y.

– Quản lý các xí nghiệp quốc doanh, công tư
hợp doanh chế biến thức ăn gia súc. Quản lý và điều hòa phân phối các phụ phẩm,
phế phẩm công nghiệp để làm thức ăn cho gia súc như : cám, tấm, lúa mì, bột cá,
bã mía, bã hèm, khô dầu dừa, khô dầu phộng, khô dầu đậu nành…

– Phối hợp với Sở Quản lý và phân phối điện
quản lý và sử dụng các trạm biến thế, hạ thế phục vụ nông nghiệp ở thành phố.,

– Phối hợp với Ty Lâm nghiệp Thành phố trong
việc nghiên cứu và tổ chức trồng cây bảo vệ đồng ruộng.

– Phối hợp với Ban Nông thôn Thành phố trong
việc nghiên cứu các chính sách, chế độ, thể lệ về tổ chức hoạt động của các tổ
vần đổi công, tập đoàn sản xuất và hợp tác xã nông nghiệp.

b/ Huyện ngoại thành và quận (có sản xuất nông
nghiệp) quản lý các mặt công tác sau đây :

– Quản lý và điều độ kế hoạch gieo trồng và
chăn nôi trong quận, huyện.

– Quản lý các trạm trại giống cây, giống con
cấp II.

– Quản lý các trạm máy cày, máy kéo và xưởng
sửa chữa nông cụ và máy móc nông nghiệp quốc doanh, công tư hợp doanh của huyện.
Quản lý, huy động toàn bộ sức kéo như trâu, bò, máy cày, máy kéo của hợp tác xã
và cá thể trong quận, huyện vào phục vụ sản xuất nông nghiệp.

– Quản lý các cơ sở kinh doanh chăn nuôi gia
súc, gia cầm, ong, cá của hợp tác xã, tổ hợp và cá thể trong quận, huyện. Quản
lý một số cơ sở quốc doanh, công tư hợp doanh chăn nuôi gia súc, gia cầm, ong,
cá do huyện xây dựng, hoặc do Thành phố phân cấp.

– Quản lý tất cả cơ sở sản xuất phân hữu cơ,
phân rác của hợp tác xã, tổ hợp và tư nhân, và một số cơ sở quốc doanh, công tư
hợp doanh thuộc loại nhỏ, hoặc bán cơ giới.

– Huyện chịu trách nhiệm tổ chức quản lý các
tổ vần đổi công, tập đoàn sản xuất, hợp tác xã nông nghiệp theo sự chỉ đạo của
Ban Nông thôn Thành phố và Sở Nông nghiệp.

3/ QUẢN LÝ NGÀNH GIAO THÔNG
VẬN TẢI :

a/ Sở Giao thông vận tải có trách nhiệm quản
lý hành chính – kinh tế toàn bộ ngành giao thông vận tải của Thành phố và quản
lý một số mặt sản xuất, xây dựng chuyên dùng phục vụ giao thông vận tải.

Sở trực tiếp quản lý :

Về giao thông :

– Tổ chức và quản lý toàn bộ việc duy tu,
bảo dưỡng, mở rộng, nâng cấp và xây dựng mới hệ thống cầu, đường, cảng, bến,
bãi của thành phố (bao gồm nội và ngoại thành).

– Quản lý toàn bộ hệ thống thoát nước ra sông
rạch ; tu bổ, nạo vét sông rạch và thông sửa những đường ống nước bị tắt nghẽn.

– Trong việc nạo vét sông rạch, Sở Giao thông
vận tải phải kết hợp với Sở Thủy lợi để thống nhất kế hoạch, biện pháp thực
hiện, nhằm bảo đảm phục vụ vừa cho giao thông vận tải thủy vừa cho công tác
tướI tiêu phục vụ nông nghiệp.

– Tổ chức thực hiện các biện pháp tiêu nước
ở các khu vực trũng thấp trong thành phố khi trời mưa nước bị ứ đọng, và quy hoạch,
cải tạo, xây dựng lại hệ thống thoát nước trong thành phố.

Về vận tải :

– Quản lý, cải tạo, tổ chức lại, điều hành sử
dụng toàn bộ càc loại phương tiện vận tải thủy, bộ cho hợp lý và có hiệu quả kinh
tế (trừ các phương tiện vận tải thủy, bộ chuyên dùng đã phân công cho các ngành
khác quản lý, và lực lượng vận tải phân cấp cho quận, huyện quản lý ; khi cần
thiết huy động, Sở phải bàn bạc nhất trí với cơ quan chủ quản và quận, huyện).

– Quản lý các đơn vị quốc doanh, công tư hợp
doanh xây dựng giao thông (duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa và thi công xây dựng mới
cầu, đường, cảng, bến, bãi).

– Quản lý các xí nghiệp quốc doanh, công tư
hợp doanh thuộc đốI tượng trong diện cải tạo; sản xuất và sửa chữa các phương tiện
vận tải thủy bộ như tàu, thuyền, ca nô, sà lan, cầu phao, phao nổi, phà, tàu
kéo, xe khách, xe vận tải…(trừ các cơ sở sửa chữa phương tiện vận tảI chuyên
dùng của các ngành khác, được Ủy ban nhân dân Thành phố cho phép thành lập).

– Quản lý các xí nghiệp cơ khí quốc doanh, công
tư hợp doanh phục hồi phụ tùng, sửa chữa phương tiện vận tải. Tùy khả năng, các
xí nghiệp này được sản xuất một số loại phụ tùng theo kế hoạch trên giao.

– Quản lý một số xí nghiệp quốc doanh, công
tư hợp doanh khai thác đá, cát, sỏi, sản xuất cấu kiện bê tông đúc sẵn phục vụ ngành
giao thông vận tải.

b/ Quận huyện :

Quận nội thành :

Về giao thông :

– Quản lý duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa các đường
đá (nhỏ), đường đất, đường hẽm trong địa bàn quận. Quy hoạch, cải tạo xây dựng
mới một số đường đất, đường hẽm trong quận (đường trong phường, liên phường),
huy động ngày công lao động nghĩa vụ của nhân dân để thực hiện, một phần kinh
phí do Ủy ban nhân dân quận cùng Sở Giao thông vận tải đề nghị Ủy ban nhân dân
Thành phố xét cấp.

– Nhận vốn ủy thác của Sở Giao thông vận tải,
thuê lao động để tổ chức thực hiện kế hoạch duy tu, bảo dưỡng (các công việc
đơn giản không yêu cầu kỹ thuật cao) đường, cầu, cống (thuộc diện quản lý của
Sở) trong quận.

– Tổ chức bảo vệ hệ thống cầu, đường, bến, cảng
do Sở quản lý nằm trên địa bàn quận.

Về vận tải :

– Quản lý một đội xe vận tải do Sở Giao thông
vận tải phân cấp để phục vụ yêu cầu vận tải của quận.

– Quản lý tất cả các loại phưong tiện có động
cơ nhỏ (xe lam, tắc xi, xích lô máy, ghe) và các loại phương tiện thô sơ trong
phạm vi quận.

Huyện ngoại thành : quản lý các việc
như quận nội thành, còn thêm :

– Quản lý các đường liên xã, đường mới xây dựng
vào các khu kinh tế mới, đường vào khu giải phóng cũ, các sông rạch nhỏ cho
giao thông vận tải thủy trong phạm vi huyện. Tùy tình hình, điều kiện thực tế,
huyện thành lập 1 đội công trình giao thông để duy tu, bảo dưỡng, nâng cấp, mở
rộng các tuyến đường, nạo vét sông rạch do huyện quản lý. Kinh phí do Ủy ban nhân
dân huyện cùng với Sở Giao thông vận tải đề nghị Ủy ban nhân dân Thành phố xét
cấp.

– Quản lý lực lượng vận tải hàng hóa, vận tải
hành khách, đi các tuyến đường từ huyện lỵ vào thành phố và về các xã, khu kinh
tế mới do Sở Giao thông vận tải phân cấp, cân đối với nhu cầu càng ngày càng
tăng của huyện trong quá trình xây dựng phát triển thành một huyện nông-công
nghiệp toàn diện.

4) QUẢN LÝ NGÀNH THƯƠNG NGHIỆP
(bao gồm cả ăn uống, khách sạn nội địa và dịch vụ) :

a) Sở Thương nghiệp có trách nhiệm quản lý hành
chính – kinh tế toàn bộ công tác lưu thông phân phối hàng hóa của thành phố,
gồm : thu mua, bán buôn, bán lẻ và một số mặt sửa chữa, dịch vụ, và quản lý một
số mặt sản xuất gắn liền với lưu thông phân phối.

Sở Thương nghiệp trực tiếp quản lý :

– Quản lý nguồn hàng, tổ chức thu mua, gia công
phân phối (bán buôn, bán lẻ) phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân trong toàn
thành phố đối với các ngành hàng : bách hóa, kim khí điện máy; vải sợi-may mặc
; chất đốt (than, củi, dầu hỏa, hơi đốt cho tiêu dùng) ; vật liệu xây dựng (bán
lẻ cho nhân dân) ; thực phẩm tươi sống (thịt, cá…) ; rau, quả ; thực phẩm công
nghệ (đường, sữa, bột ngọt, bánh mứt kẹo, nước mắm, muối, nước chấm…) ; mua bán
đồ cũ.

– Thông qua các công ty chuyên doanh, hoặc trực
tiếp (đối với các cửa hàng lớn), Sở tổ chức và quản lý màng lưới các trạm thu
mua, các cửa hàng quốc doanh bán buôn, bán lẻ, các đại lý (nếu có) thuộc các
ngành hàng nêu trên (trừ các cửa hàng ở huyện ngoại thành do huyện trực tiếp quản
lý).

– Quản lý các cơ sở quốc doanh giết mổ thịt,
và cơ sở đông lạnh cần thiết để dự trữ thịt và hàng tươi sống.

– Quản lý các cơ sở quốc doanh, công tư hợp
doanh may đo và may sẵn (may sẵn đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cho cán bộ và nhân
dân).

– Quản lý các cơ sở quốc doanh, công tư hợp
doanh đóng tập, vở…(những cái quy mô lớn).

– Quản lý các cửa hàng (hoặc xí nghiệp) quốc
doanh, công tư hợp doanh sửa chữa (thuộc loại lớn) : tivi, radio, xe gắn máy,
xe đạp, đồng hồ, máy may, mắt kính, các loại đồ điện…

– Quản lý các cơ sở quốc doanh, công tư hợp
doanh sản xuất : bánh mứt kẹo (loại đem tiêu thụ ngay không để lâu được), kem, nước
đá (một số xí nghiệp để trực tiếp phục vụ cho thu mua và phân phối hải sản,
tương chao, đậu phụ, nước mắm và chế biến thủy sản, nước chấm và các loại thực
phẩm khác để đem tiêu thụ ngay không để lâu được (trừ các xưởng quốc doanh,
công tư hợp doanh chế biến thực phẩm quy mô nhỏ phục vụ nhu cầu của địa phương
giao cho quận, huyện quản lý).

– Sở Thương nghiệp có trách nhiệm tổ chức thực
hiện cải tạo thương nghiệp tư bản tư doanh song song với xây dựng, phát triển
màng lưới thương nghiệp quốc doanh và thương nghiệp hợp tác xã. Chỉ đạo các
quận, huyện thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với tiểu thương.

– Chỉ đạo, hướng dẫn, giúp đỡ nghiệp vụ và rót
hàng hóa theo kế hoạch cho các cửa hàng thương nghiệp ở huyện ngoại thành và
các hợp tác xã tiêu thụ, mua bán (việc chỉ đạo hợp tác xã tiêu thụ, mua bán thông
qua Ban quản lý hợp tác xã tiêu thụ và mua bán).

– Sở Thương nghiệp cùng với Ủy ban Vật giá Thành
phố xây dựng và đề nghị xét duyệt giá cả theo quy định của Ủy ban nhân dân
Thành phố. Sở Thương nghiệp, phối hợp với Ban Quản lý thị trường thành phố, Sở
Thuế, Sở Tài chánh, Sở Công an, quản lý điều hành một số chợ lớn có tính chất
điển hình, quản lý thị trường, đấu tranh chống đầu cơ tích trữ, buôn lậu, nhằm
bình ổn vật giá trong thành phố.

b) Sở Ăn uống và khách sạn có trách nhiệm quản
lý hành chính – kinh tế ngành kinh doanh ăn uống công cộng, khách sạn nội địa
và một số mặt dịch vụ trong toàn thành phố.

Sở Ăn uống và khách sạn trực tiếp quản lý :

– Quy hoạch xây dựng, phát triển, tổ chức lại
và quản lý màng lưới khách sạn nội địa, nhà ngủ, cửa hàng ăn uống, giải khát và
một số cơ sở dịch vụ lớn về cắt tóc, uốn tóc, giặt ủi trong toàn thành phố.

– Quản lý lưu thông phân phối rượu, bia, nước
ngọt, nước đá.

– Tổ chức sản xuất và phân phối bánh mì ăn sáng
và phân phối cho khách sạn, ăn uống vãng lai (ngoài tiêu chuẩn định lượng lương
thực hàng tháng).

– Thông qua các công ty chuyên doanh quản
lý khách sạn nội địa, các cửa hàng ăn uống giải khát quốc doanh, các cơ sở quốc
doanh lớn về cắt tóc, giặt ủi, các cửa hàng bán rượu, bia, nước ngọt, một số lò
bánh mì và một số xí nghiệp nước đá.

c) Quận huyện:

Quận nội thành : hướng chủ yếu là phân
cấp cho quận quản lý toàn diện màng lưới các cửa hàng thương nghiệp, ăn uống
công cộng, dịch vụ trực tiếp phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân trên địa bàn
quận. Hiện nay ở thành phố đang vừa cải tạo, vừa xây dựng, quận đang tập trung
vào tổ chức thực hiện công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa. Trước mắt, cửa hàng
nào quận có khả năng tiếp nhận thì giao cho quận, còn cửa hàng nào quận chưa
tiếp nhận thì Sở Thương nhgiệp tạm thời quản lý. Ngoài ra, quận quản lý các mặt
công tác sau đây :

– Quản lý tất cả hợp tác xã tiêu thụ, mua bán
trong quận.

– Quản lý, tổ chức thực hiện cải tạo xã hội
chủ nghĩa toàn bộ tiểu thương trong quận.

– Ủy ban nhân dân quận (Phòng Thương nghiệp
giúp) lãnh đạo, quản lý các cửa hàng thương nghiệp, ăn uống công cộng mà các công
ty chuyên doanh của Sở Thương nghiệp, Sở Ăn uống khách sạn còn tạm thời quản
lý, để phục vụ sản xuất, đời sống trên địa bàn quận. Các cửa hàng và cơ sở kinh
doanh này phải chịu sự lãnh đạo và quản lý của Ủy ban nhân dân quận về các mặt chính
trị, tư tưởng, bảo vệ, đời sống ; chịu sự kiểm tra, giám sát của Ủy ban nhân
dân quận về qũy hàng hóa và hoạt động kinh doanh, nhằm bảo đảm thực hiện đúng
phương hướng chỉ đạo của Thành ủy và Ủy ban nhân dân thành phố, chấp hành đúng
chính sách, chế độ, thể lệ quy định, phân phối đúng đối tượng, đúng tiêu chuẩn,
đúng định lượng, đúng phương thức, bảo đảm sự dễ dàng thuận tiện cho nhân dân.
Ủy ban nhân dân quận cùng với Sở Thương nghiệp thoả thuận chọn bố trí trưởng và
phó các cửa hàng và tiến hành quản lý cán bộ theo quy định phân cấp quản lý cán
bộ của Thành ủy và Ủy ban nhân dân Thành phố.

– Quản lý các cơ sở của hợp tác xã, cá thể kinh
doanh ăn uống, giải khát, phòng ngủ trong quận.

– Quản lý các cơ sở hợp tác xã, cá thể và một
số cơ sở quốc doanh, công tư hợp doanh quy mô nhỏ (phục vụ nhu cầu của địa phương)
sản xuất chế biến các loại thực phẩm, kể cả chế biến thủy sản, thuộc ngành
thương nghiệp quản lý (bánh mứt kẹo, kem, nước đá, tương chao, đậu phụ, mắm,
nước mắm, magi, xì dầu và các loại thực phẩm khác phải đem tiêu thụ ngay không
để lâu được…).

– Quản lý các cơ sở dịch vụ của hợp tác xã,
cá thể trong quận : giặt ủi ; cắt tóc, uốn tóc ; sửa chữa tivi, radio, máy khâu,
xe gắn máy, xe đạp, đồng hồ, mắt kính, các loại đồ điện ; đánh máy chữ thuê và dạy
nghề đánh máy chữ.

– Quản lý các hợp tác xã, tổ hợp và cá thể may
đo, các cơ sở tư nhân dạy may cắt quần áo trong quận.

– Quản lý các chợ trong quận, trừ một số chợ
lớn do Sở Thương nghiệp quản lý.

Huyện ngoại thành quản lý các việc như
quận nội thành, còn thêm:

– Tổ chức thu mua thực phẩm, rau quả theo hợp
đồng hai chiều để cung cấp cho nội thành và được để lại một phần phân phối cho
nhân dân địa phương theo kế hoạch đã được xét duyệt.

– Theo nhu cầu cần thiết và điều kiện về nguồn
hàng, tổ chức và quản lý các cửa hàng quốc doanh bán lẻ, các cửa hàng ăn uống,
giải khát phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân trong huyện. Qũy hàng hoá do
các công ty chuyên doanh Sở Thương nghiệp phân bổ về theo kế hoạch lưu chuyển
hàng hóa đã được xét duyệt.

Nói chung, huyện ngoại thành trực tiếp tổ chức
và quản lý màng lưới thương nghiệp, ăn uống công cộng và dịch vụ quốc doanh,
hợp tác xã của địa phương, dưới sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của Sở
Thương nghiệp và Sở Ăn uống và khách sạn.

5) QUẢN LÝ NGÀNH XÂY DỰNG
CƠ BẢN :

a) Sở Xây dựng có trách nhiệm quản lý hành chính
– kinh tế ngành xây dựng cơ bản, sản xuất và phân phối sử dụng vật liệu xây
dựng của thành phố. Sở trực tiếp quản lý :

– Quản lý công tác quy hoạch và thiết kế các
công trình công nghiệp và dân dụng trong thành phố.

– Quản lý và giám sát tất cả các đơn vị thi
công xây lắp các công trình công nghiệp, dân dụng và công trình công cộng. Riêng
về công trình dân dụng, Sở quản lý các công trình có vốn đầu tư từ 500.000đ trở
lên.

Việc quy hoạch, khảo sát, thiết kế, thi
công xây dựng các công trình chuyên ngành : giao thông, nông nghiệp, thủy lợi,
bưu điện… do các ngành ấy phụ trách.

– Quản lý tất cả các cơ sở quốc doanh, công
tư hợp doanh sản xuất vật liệu xây dựng như xi măng, gạch, ngói, đá, vôi, cát, sỏi,
bê tông đúc sẵn, sành sứ vệ sinh, kính xây dựng, các loại phụ tùng, phụ kiện và
chế biến gỗ chuyên dùng phục vụ ngành xây dựng.

– Cải tạo, quản lý và xét cấp giấy phép hành
nghề cho các nhà thầu xây dựng tư nhân, các cơ sở thiết kế xây dựng tư nhân.

– Quản lý công tác cung ứng vật liệu xây dựng
cho các ngành, các cấp theo kế hoạch xây dựng được duyệt và cho ngành thương
nghiệp theo kế hoạch được duyệt, để phân phối lại cho nhân dân, cán bộ xây cất
và sửa chữa nhà cửa.

– Xét và cấp giấy phép cho sửa chữa lớn khi
có thay đổI kết cấu công trình.

b) Viện Quy hoạch tổng hợp Thành phố quản lý
công tác quy hoạch, cải tạo và xây dựng phát triển toàn diện thành phố. Nghiên
cứu giúp Ủy ban nhân dân Thành phố xét duyệt, hoặc đề nghị Thủ tướng Chính Phủ
phê duyệt cấp đất cho xây dựng cơ bản trong toàn thành phố.

c) Quận nội thành :

– Quản lý công tác thi công xây dựng của quận
và phụ trách xây dựng các công trình dân dụng có vốn đầu tư từ 500.000đ trở
xuống.

– Kết hợp với Viện Quy hoạch tổng hợp Thành
phố, nghiên cứu quy hoạch cải tạo, xây dựng nhà cửa và các công trình phúc lợi công
cộng khác trong quận. Quản lý và thực hiện quy hoạch đã được duyệt, kịp thời
phát hiện, đề nghị xử lý những trường hợp xây dựng trái phép, hoặc vi phạm những
quy tắc xây dựng đã được ban hành.

– Lập kế hoạch xây dựng cơ bản và sản xuất vật
liệu xây dựng của quận. Tổ chức chỉ đạo và quản lý các đội xây dựng, hợp tác xã
xây dựng, hợp tác xã, tổ sản xuất và tư nhân sản xuất vật liệu xây dựng.

– Quản lý và hướng dẫn thực hiện chính sách,
chế độ giá cả do Nhà nước quy định trong xây dựng và sản xuất vật liệu xây
dựng, cho các hợp tác xã xây dựng, các hợp tác xã, tổ sản xuất và cá thể sản
xuất vật liệu xây dựng trong quận.

d) Huyện ngoại thành :

Huyện cũng quản lý các việc như quận nội thành,
còn thêm những việc cụ thể như sau :

– Kết hợp với Viện Quy hoạch tổng hợp Thành
phố, nghiên cứu quy hoạch xây dựng toàn huyện, quản lý quy hoạch của huyện, hướng
dẫn nhân dân xây dựng theo quy hoạch và kiểm tra ngăn chặn các trường hợp xây
dựng trái phép trong huyện.

Thiết kế quy hoạch xã và thiết kế các công trình
phục vụ sinh hoạt cho các xã như trạm xá, cửa hàng phục vụ, sân kho hợp tác xã,
trường học, …

– Tổ chức và quản lý đội xây dựng của huyện
để thi công xây dựng các công trình của huyện và tham gia thi công một số công trình
của Sở hoặc nhận thi công một số công trình đơn giản do Sở giao.

– Tổ chức và quản lý các cơ sở quốc doanh, công
tư hợp doanh sản xuất vật liệu xây dựng của huyện.

6) QUẢN LÝ NGÀNH LƯƠNG THỰC
:

a/ Sở Lương thực chịu trách nhiệm thống nhất
quản lý toàn bộ các công tác thu mua, phân phối lương thực trong thành phố (kể
các lương thực được Trung ương chi viện), cụ thể là :

– Quản lý toàn bộ hoạt động thu mua, tiếp nhận
của Trung ương chi viện, vận chuyển, bảo quản, chế biến và phân phối lương thực
trong thành phố, bao gồm lúa, gạo, tấm, bắp, bột mì, hoa màu và các chất bột
khác.

– Nghiên cứu và tổ chức thực hiện tiêu chuẩn,
phương thức phân phối lương thực trong thành phố một cách hợp lý và chặt chẽ
(nội dung : tiêu chuẩn định lượng cho từng đối tượng lao động, thủ tục, thể lệ,
tổ chức màng lưới phân phối..).

– Sở quản lý toàn bộ hoạt động kinh doanh, sự
nghiệp của ngành lương thực từ thành phố đến các Phòng Lương thực quận, huyện,
các cửa hàng lương thực theo hệ thống ngành dọc (bao gồm : chỉ tiêu kế hoạch
huy động, bảo quản, vận tải, chế biến, phân phối lương thực, vốn và kinh phí,
tổ chức biên chế lao động, tiền lương, tài sản, vật tư ..).

– Sở quản lý các cơ sở quốc doanh, công tư hợp
doanh xay xát lúa gạo, các lò bánh mì lớn, các cơ sở chế biến mì sợi và chế biến
lương thực khác cỡ lớn cần thiết cho cấp thành phố. Chỉ đạo màng lưới các tổ
phục vụ phân phối lương thực.

b/ Quận, huyện :

– Phòng lương thực quận, huyện thực hiện kế
hoạch phân phối lương thực vả thực hiện các chủ trương, chính sách và chế độ quản
lý thống nhất lương thực ở địa phương, chịu sự lãnh đạo, kiểm tra quản lý hành
chính của Ủy ban nhân dân quận, huyện.

– Tổ chức và quản lý màng lưới phân phối lương
thực trong quận, huyện. Màng lưới này phải hợp lý, thuận tiện cho nhân dân và
cán bộ, công nhân viên chức nhà nước. Tổ chức theo hướng : các cửa hàng quốc
doanh theo khu vực, phân phối cho cán bộ, công nhân viên chức thông qua tổ căng
tin của cơ quan, xí nghiệp, v.v.., duy trì, củng cố các tổ phục vụ phân phối
gạo ở phường để trực tiếp phân phối gạo cho nhân dân, hưởng hoa hồng, do Ủy bn
nhân dân phường lãnh đạo.

– Các đơn vị kinh doanh lương thực ở quận, huyện
hoạt động theo chế độ hạch toàn kinh tế thông qua các chỉ tiêu kế hoạch do Sở
Lương thực Thành phố giao.

– Phòng lương thực quận, huyện chịu trách nhiệm
cấp sổ lương thực theo tiêu chuẩn định lượng do Ủy ban nhân dân Thành phố quy
định (Phòng Lương thực, các cửa hàng, các tổ phục vụ phân phối lương thực không
được tự ý cắt giảm lương thực trái với tiêu chuẩn định lượng đã quy định). Đồng
thời, tổ chức hướng dẫn, kiểm tra đôn đốc các cửa hàng lương thực, các tổ phục
vụ phân phối lương thực chấp hành nghiêm chỉnh các chính sách, chế độ về quản
lý và phân phối lương thực trong quận, huyện.

– Phòng Lương thực quận quản lý các cơ sở quốc
doanh, công tư hợp doanh (loại vừa và nhỏ) và các cơ sở tư nhân sản xuất bánh
mì, chế biến mì sợi và chế biến các loại lương thực khác để phục vụ trong địa
phương.

– Phòng Lương thực các huyện ngoại thành, ngoài
những nhiệm vụ đã quy định trên, còn phải thực hiện việc thu mua lương thực
theo chỉ tiêu kế hoạch do Ủy ban nhân dân Thành phố đề ra. Lập bảng cân đối
lương thực để điều hòa lương thực trong huyện, báo cáo số lương thực thừa hoặc
thiếu để thành phố có kế hoạch điều động hoặc chi viện.

7/QUẢN LÝ NGÀNH THỦY SẢN
:

a/ Sở Thủy sản chịu trách nhiệm quản lý hành
chính – kinh tế ngành thủy sản toàn thành phố. Nhiệm vụ chủ yếu của Sở là tổ
chức và quản lý việc đánh cá, tôm và các loại hải sản khác ở biễn và trên sông
lớn.

Việc nuôi cá nước ngọt do Sở Nông nghiệp phụ
trách, việc chế biến thủy sản giao cho Sở Thương nghiệp phụ trách.

– Sở Thủy sản trực tiếp quản lý :

– Quản lý toàn bộ tàu thuyền đánh cá, tôm quốc
doanh, công tư hợp doanh của Thành phố.

– Quản lý việc cung cấp nguyên liệu và ngư cụ
cho ngành đánh bắt và nuôi trồng hải sản của Thành phố.

– Tổ chức thu mua các loại hải sản ở trên biển,
cộng với hải sản đánh bắt được đem phân phối cho các khâu chế biến xuất khẩu,
chế biến dùng trong nội địa và cho ngành thương nghiệp để bán lẻ cho tiêu dùng.

– Còn việc thu mua các loại hải sản và thủy
sản của hợp tác xã, cá thể đánh bắt, nuôi trồng và của các địa phương khác do ngành
thương nghiệp tổ chức thực hiện. Ngành ngoại thương thu mua các loại hải sản
xuất khẩu.

– Tổ chức, quản lý các sơ sở quốc doanh, công
tư hợp doanh nuôi trồng hải sản ở các vùng nước mặn ven biển.

– Tổ chức, quản lý các xí nghiệp quốc doanh,
công tư hợp doanh sửa chữa tàu thuyền đánh cá.

– Sở Thủy sản được giao quản lý một số bến,
cảng để tàu cá ra vào.

b/ Quận, huyện (có đánh bắt, nuôi trồng hải
sản).

– Quản lý các tàu thuyền đánh cá của hợp tác
xã, tổ hợp, cá thể và các bến cảng cá nhỏ trong địa phương.

– Quản lý các hợp tác xã, tổ hợp và cá thể sản
xuất, sửa chữa ngư cụ và phương tiện phục vụ ngành thủy sản.

8/ QUẢN LÝ NGÀNH THỦY LỢI
:

a/ Sở Thủy lợi chịu trách nhiệm quản lý hành
chính – kinh tế các mặt công tác thủy lợi của Thành phố, bao gồm việc xây dựng
và quản lý nguồn nước phục vụ sản xuất và tiêu dùng, thủy nông (tưới, tiêu phục
vụ nông nghiệp). Sở trực tiếp quản lý ;

– Xây dựng và quản lý quy hoạch thủy lợi và
thủy năng của Thành phố. Trực tiếp quản lý việc thực hiện quy hoạch thuỷ lợi và
thủy năng đối với các công trình có tính chất liên huyện trở lên. Kiểm tra, giúp
đỡ các quận, huyện làm tốt công tác thủy lợi nhỏ ở địa phương. Thiết kế các
công trình thủy lợi nhỏ cho các quận, huyện chưa đảm nhiệm lấy được.

– Quản lý nguồn nước mặt, nước ngầm, khai thác
sử dụng hợp lý để phục vụ sản xuất nông nghiệp.

– Quản lý, cải tạo, khai thác, sử dụng và bảo
vệ các công trình thủy lợI đã có, để phục vụ sản xuát và đời sống.

– Quản lý vốn đầu tư, tổ chức khảo sát, thiết
kế và thi công những công trình thủy lợi, thủy điện của Thành phố có vốn đầu tư
từ 500.000đ trở lên. Thi công một số hạng mục công trình hay công trình của
trung ương do Bộ Thủy lợi phân công cho Thành phố.

– Quản lý các công trình thủy nông phục vụ chung
cho nhiều quận, huyện.

– Quản lý các đơn vị thi công thủy lợi quốc
doanh, công tư hợp doanh. Xét cho hành nghề các tổ chức hợp tác hoặc cá thể có thiết
bị máy móc chuyên phục vụ xây dựng các công trình thủy lợi.

– Xét duyệt thiết kế kỹ thuật công trình và
dự toán thiết kế công trình thủy lợi do Thành phố quản lý và công trình do quận,
huyện quản lý.

– Quản lý các cơ sở quốc doanh, công tư hợp
donah sản xuất và sửa chữa cơ khí chuyên dủng phục vụ cho ngành thủy lợi.

– Chỉ đạo, giúp đỡ các quận, huyện xây dựng
kế hoạch thủy lợi dài hạn, hàng năm của quận, huyện và hoàn thành các thủ tục về
trình tự xây dựng cơ bản.

– Tổ chức và quản lý các trạm thủy văn dùng
riêng, các trạm thí nghiệm tưới nước để phục vụ cho nhu cầu xây dựng thủy lợi, cho
việc chống lũ lụt và quản lý sử dụng nước.

Ngành thủy lợi khi xây dựng quy hoạch và đào
kinh, đắp đập phải kết hợp chặt chẽ với ngành giao thông vận tải.

b/ Huyện ngoại thành và quận (có sản xuất nông
nghiệp)

– Quản lý quy hoạch thủy lợi của quận, huyện
(trong đó có quy hoạch thủy lợi nhỏ). Quản lý vốn xây dựng và tổ chức thi công
các công trình thủy lợi nhỏ thuộc vốn trợ cấp theo kế hoạch đã được duyệt, hoặc
một số công trình thủy lợi loại vừa do Thành phố phân cấp cho quận, huyện.

– Quản lý các nguồn nước ngọt trong địa phương
và có biện pháp ngăn ngừa chống ô nhiễm các dòng sông do nước thải của các xí
nghiệp, chống nước mặn tràn vào ảnh hưởng sản xuất nông nghiệp.

– Quản lý các đội công trình thủy lợi của quận,
huyện. Tổ chức, chỉ đạo các độI thủy lợi quận, huyện phối hợp chặt chẽ với các
đội thủy lợi xã.

– Quản lý các công trình thủy nông phục vụ trong
quận, huyện.

9/ QUẢN LÝ NHÀ ĐẤT VÀ CÔNG
TRÌNH CÔNG CỘNG :

a/ Sở Quản lý nhà đất chịu trách nhiệm quản
lý hành chính – kinh tế các mặt công tác về quản lý nhà đất trong toàn thành phố.
Sở trực tiếp quản lý:

– Quản lý toàn bộ nhà ở trong thành phố, lập
quy hoạch theo phân phối, điều chỉnh, cho thuê theo quy hoạch và theo đúng tiêu
chuẩn, chế độ, chính sách nhà nước quy định.

– Quản lý toàn bộ đất thổ cư trong nội thành
(bao gồm đất thổ cư thuộc Nhà nước quản lý và của tư nhân được quyền sử dụng.

Đất thổ cư gắn liền với đất canh tác ở các huyện
ngoại thành do Sở Nông nghiệp quản lý.

– Tổ chức thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa
về quan hệ sở hữu nhà và đất của tư nhân.

– Quản lý và chịu trách nhiệm sửa chữa nhà cửa
công thuộc thành phố quản lý. Đồng thời có biện pháp hướng dẫn, giúp đỡ nghiệp
vụ về quản lý và sửa chữa cho quận, huyện.

– Xem xét, giải quyết các vụ tranh chấp về nhà
đất ngoài phạm vi quyền hạn của Tòa án và ngoài phạm vi quyền hạn giải quyết
của quận, huyện.

– Xác định quyền được sử dụng đất thổ cư để
giúp Viện Quy hoạch tổng hợp nghiên cứu đề xuất với Ủy ban nhân dân Thành phố xét
cho phép xây dựng nhà mới trong thành phố.

b/ Sở quản lý công trình công cộng chịu trách
nhiệm quản lý hành chính – kinh tế các mặt công tác về quản lý công trình công
cộng trong toàn thành phố. Sở trực tiếp quản lý :

– Quản lý các công trình công cộng lớn và hệ
thống cây xanh trong thành phố (công viên, vườn hoa, vườn thú, vườn ươm cây, hoa,
kiểng, cây xanh hai bên đường giao thông..).

– Quản lý các nhà máy nước và phân phối nước
máy phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân trong thành phố.

– Quản lý hệ thống đèn điện thắp sáng trên đường
giao thông, cầu, các ngõ hẻm, công viên và các nơi công cộng khác.

Đèn báo hiệu giao thông (đèn xanh, đỏ) ở các
ngả tư đường do Sở Công an quản lý.

– Quản lý công tác vệ sinh (phân, rác) trong
toàn thành phố.

– Quản lý công tác phục vụ mai táng (mai táng
và nghĩa trang).

– Tổ chức thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa
đối với các cơ sở tư nhân kinh doanh rút hầm cầu, mai táng, nghĩa trang.

c/ Quận, huyện giúp Sở Quản lý nhà đất và Sở
Quản lý công trình công cộng quản lý toàn bộ nhà đất và công trình công cộng trong
phạm vi quận, huyện.

– Quản lý nhà và đất công (gồm nhà ở, nhà làm
việc) của các cơ quan cấp quận, huyện và phường, xã. Thu tiền cho thuê nhà và
sửa chữa theo sự phân cấp của Sở.

– Đối với nhà tư nhân cho thuê, quận quản lý,
kiểm tra việc ký hợp đồng cho thuê nhà theo chế độ, giá cả do Nhà nước quy định.
Trên cơ sở chứng nhận của phường, xã, quận, huyện, xét cấp giấy mua vật liệu
sửa chữa nhà cho tư nhân (Thành phố phải có kế hoạch dành phần vật liệu xây
dựng thích đáng cho việc sửa chữa nhà tư nhân). Chứng nhận bán, nhượng, đổi nhà
theo sự phân cấp của sở.

– Xem xét giải quyết các vụ tranh chấp về nhà
đất trong phạm vi quận, huyện. Các vụ vi phạm hình sự về chiếm đoạt nhà đất,
hoặc xét công nhận quyền thừa tự nhà đất chuyển cho Tòa án nhân dân giải quyết.

– Quản lý một đội sửa chữa nhỏ nhà cửa trong
phạm vi quận, huyện.

– Kiểm tra nắm tình hình thực tế nhà ở và nhu
cầu nhà ở trong quận, huyện để báo cáo và đề xuất với Sở việc phân phối, điều
chỉnh và quản lý nhà ở cho hợp lý hơn.

– Quản lý các vườn hoa nhỏ trong quận, huyện
do Sở Quản lý công ttrình công cộng phân cấp, hoặc do quận, huyện tổ chức xây
dựng.

10/ QUẢN LÝ CÔNG TÁC TÀI
CHÍNH :

a/ Sở Tài chính có trách nhiệm quản lý ngân
sách thành phố và toàn bộ các chế độ tài chính của Nhà nước. Sở Tài chính trực tiếp
quản lý :

– Tổng hợp kế hoạch ngân sách, quản lý việc
thực hiện ngân sách thành phố.

– Thanh tra và giám sát các hoạt động kinh tế
đốI với các ngành, các cấp, các đơn vị cơ sở của Thành phố.

– Quản lý toàn bộ tài sản công của Thành phố.

– Chỉ đạo các quận, huyện về công tác thu thuế
nông nghiệp, thu lệ phí và các khoản tạp thu khác.

– Quản lý các khoản thu chi của các ngành cấp
Thành và dự toán thu chi cho các quận, huyện.

b/ Quận, huyện :

– Chịu trách nhiệm tổng hợp kế hoạch và chỉ
đạo thực hiện các khoản thu chi thuộc quận, huyện quản lý, theo sự phân cấp quản
lý kinh tế. Chịu trách nhiệm thu thuế nông nghiệp, thu các lệ phí và số tạp thu
theo kế hoạch chung của Thành phố.

– Thu nhận và quản lý tài sản công thuộc quận,
huyện quản lý và thực hiện việc điều phối theo kế hoạch chung của Thành phố.

– Đối với các huyện ngoại thành, Sở Tài chính
có trách nhiệm hướng dẫn lập dự toán thu chi có tính cách tập sự cho việc quản
lý ngân sách sau khi hoàn thành việc phân cấp quản lý kinh tế.

+Về ngân sách phường, xã :

– Theo quy định hiện hành, xã là một cấp ngân
sách ; Sở Tài chính có trách nhiệm nghiên cứu chế độ quản lý ngân sách xã, bảo
đảm cho các xã có đầy đủ điểu kiện hoàn thành nhiệm vụ ở cấp cơ sở.

– Đối với phường, Sở Tài chính nghiên cứu bảo
đảm kinh phí cho phường hoạt động.

11/ QUẢN LÝ CÔNG TÁC THUỂ
VỤ :

a/ Sở Thuế có trách nhiệm quản lý toàn diện
công tác thuế vụ ở thành phố.

– Căn cứ chính sách, chế độ, luật lệ thuế hiện
hành và tình hình hoạt động kinh doanh dịch vụ của Thành phố, Sở lập kế hoạch
thu thuế ở các khu vực quốc doanh, công tư hợp doanh, hợp tác xã và cá thể.

– Tổ chức thực hiện kế hoạch thu thuế theo các
đốI tượng quốc doanh, công tư hợp doanh, hợp tác xã và cá thể. Thường xuyên tổ
chức chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc các Phòng Thuế ở quận, huyện thực hiện kế hoạch
thu thuế cho kịp thời và đầy đủ.

– Chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện các chính
sách, chế độ, thể lệ thu thuế đã được quy định.

– Xét và giải quyết các đơn khiếu nại về việc
chấp hành chính sách thuế trong phạm vi Thành phố.

– Cùng với các ngành, các cơ quan quản lý hợp
tác xã, các đoàn thể có liên quan, nghiên cứu đề xuất bổ sung chính sách, chế
độ thuế trong thành phố cho hợp lý.

b/ Quận, huyện :

Phòng Thuế ở quận là đơn vị trực thuộc của Sở
Thuế chịu sự quản lý, chỉ đạo của Sở, đồng thời chịu sự lãnh đạo và kiểm tra của
Ủy ban nhân dân quận, huyện, nhằm bảo đảm thực hiện đúng đắn chế độ thuế của
Nhà nước. Phòng Thuế có nhiệm vụ :

– Tổ chức trực tiếp thu tiền thuế tại Phòng
thuế quận, huyện và nộp số thuế đã thu vào ngân hàng. Thường xuyên kiểm tra nghiệp
vụ thu và nộp thuế ở phạm vi quận, huyện phụ trách.

– Tổ chức công tác kế toán, thống kê số thu
nộp được chính xác, kịp thời bảo đảm yêu cầu chỉ đạo thu.

– Quản lý chặt chẽ các loại ấn chỉ thuế do Bộ
Tài chính và Sở Thuế ấn hành, tránh để mất mát, nhầm lẫn tiền thuế và các hiện
tượng sai trái khác.

– Xem xét và giải quyết các đơn khiếu nại về
thuế trong phạm vi quận, huyện.

12/ QUẢN LÝ NGÀNH Y TẾ :

a/ Sở Y tế có trách nhiệm quản lý theo ngành
toàn bộ công tác y và dược của Thành phố. Sở trực tiếp quản lý :

– Quản lý toàn bộ nộI dung chuyên môn của ngành
y tế thành phố (gồm vệ sinh phòng bệnh, khám trị bệnh, hộ sinh, cấp cứu, ngăn
ngừa và trị các bệnh dịch).

– Quản lý toàn diện các bệnh viện, phòng khám
bệnh công trực thuộc Sở và quản lý sự hoạt động các bệnh viện tư.

– Quản lý tất cả các cơ sở quốc doanh, công
tư hợp doanh bán thuốc đông, tây y, trồng và bào chế thuốc đông, tây y, trồng răng
và nhổ răng.

– Quản lý các cơ sở vệ sinh phòng dịch của Thành
phố.

b/ Quận, huyện :

– Quản lý các bệnh viện, phòng khám bệnh của
quận, huyện và quản lý tất cả các trạm xá, nhà hộ sinh dân lập và các tổ chức y
tế xí nghiệp, cơ quan, trường học đóng trong quận, huyện.

– Quản lý các cửa hàng bán thuốc đông, tây y
của các bệnh viện quận, huyện.

– Quản lý các cơ sở nhổ và trồng răng của tổ
hợp tác và cá thể.

– Quản lý các vườn thuốc đông, tây y và các
trạm điều chế thuốc đông, tây y trong quận, huyện theo sự phân cấp cụ thể của Sở
Y tế.

13/ QUẢN LÝ NGÀNH GIÁO DỤC
:

a/ Sở Giáo dục chịu trách nhiệm quản lý theo
ngành toàn bộ công tác giáo dục của Thành phố (gồm giáo dục phổ thông, mẫu giáo,
bình dân học vụ, bổ túc văn hóa, sư phạm). Sở trực tiếp quản lý :

– Quản lý toàn bộ nội dung chương trình giáo
dục từ cấp III trở xuống đến mẫu giáo, chương trình sư phạm trung sơ cấp.

– Quy hoạch xây dựng và phát triển ngành giáo
dục của Thành phố theo từng năm trên các mặt phát triển trường phồ thông, sư
phạm, bồi dưỡng, đào tạo xây dựng đội ngũ giáo viên các cấp, chỉ tiêu phát triển
học sinh để cung cấp cho các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học.

– Nghiên cứu chương trình giáo dục cho phù hợp
với yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội của Thành phố và phù hợp với
yêu cầu cải cách giáo dục.

– Quản lý trực tiếp các trường phổ thông cấp
III, trường văn hóa Lý Tự Trọng, trường bổ túc công nông, trường phổ thông lao
động, các trường sư phạm.

– Quản lý công tác xóa nạn mù chữ và bổ túc
văn hóa ở các sở, ban, ngành thành phố.

b/ Quận, huyện :

– Quản lý trực tiếp các trường phổ thông cấp
I và II, trường mẫu giáo, các lớp bổ túc văn hóa trong quận, huyện.

– Quản lý, chỉ đạo trực tiếp toàn bộ công tác
chuyên môn nghiệp vụ, xây dựng cơ bản, bảo quản cơ sở vật chất, thiết bị trường
học cho các trường mẫu giáo, trường phổ thông cấp I, II và chịu trách nhiệm
phong trào bình dân học vụ ở quận, huyện theo chủ tương, kế hoạch, nội dung của
Thành phố.

(Về công tác quản lý cán bộ, giáo viên sẽ có
quy định sau).

14/ QUẢN LÝ CÔNG TÁC THƯƠNG
BINH VÀ XÃ HỘI :

a/ Sở Thương binh và xã hội có trách nhiệm quản
lý thống nhất sự nghiệp thương binh và xã hội trong toàn thành phố. Sở trực
tiếp quản lý các mặt công tác sau đây :

– Quản lý về mặt hành chính các thương binh,
bệnh binh khi đã làm xong thủ tục giấy tờ và tổ chức thực hiện các chế độ,
chính sách đối với thương binh, bệnh binh, con liệt sĩ, cán bộ về hưu và gia
đình liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng.

– Quản lý các trại nuôi dưỡng người già, tàn
tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa, và các trường, trại xã hội khác.

– Quản lý tất cả các cơ sở sản xuất tập thể
của thương binh, bệnh binh, có sự chỉ đạo, giúp đỡ về chuyên môn kỹ thuật của các
sở chuyên ngành.

– Kiểm tra, đôn đốc và chỉ đạo các sở, ban,
ngành và quận, huyện thi hành tốt công tác thương binh và xã hội ở từng cơ sở và
từng địa phương.

b/ Quận, huyện :

– Chịu trách nhiệm thống kê, lập hồ sơ và quản
lý việc thực hiện các chính sách, chế độ, đối với thương binh, bệnh binh, cán
bộ về hưu, con liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng ở
trong quận, huyện ; cấp phát các khoản phụ cấp lương hưu, tuất, phụ cấp thương
tật.. theo sự quy định của Sở Thương binh và xã hội.

– Chỉ đạo các phường, xã tổ chức sắp xếp công
việc làm cho thương binh, bệnh binh.

– Quản lý các cơ sở sản xuất của thương binh,
bệnh binh.

– Chỉ đạo tốt việc nuôi dưỡng tập trung các
cháu mồ côi và con thương binh, liệt sĩ của quận, huyện.

– Lập dự toán thu chi các loại kinh phí về công
tác thương binh và xã hội trong quận, tổ chức chỉ đạo các Ban Thương binh và xã
hội xã, phường thực hiện dự toán đúng chính sách, chế độ Nhà nước quy định.

– Chịu trách nhiệm hướng dẫn, giáo dục, tuyên
truyền phổ biến sâu rộng các chủ trương, chính sách, chế độ, thể lệ của Đảng và
Nhà nước về thương binh và xã hội trong các ngành, các cấp trong quận, huyện.

– Nắm chắc các đối tượng tệ nạn xã hội trong
quận, huyện. Phối hợp với công an, các đoàn thể tổ chức thực hiện các biện pháp
giáo dục và cải tạo các nhóm xì ke, gái mãi dâm và những phần tử tệ nạn xã hội
khác và có biện pháp tuyên truyền vận động quần chúng tham gia phong trào chống
các tệ nạn xã hội.

15/ QUẢN LÝ CÔNG TÁC VĂN
HÓA VÀ THÔNG TIN :

a/ Sở Văn hóa và thông tin có trách nhiệm quản
lý mọi hoạt động thông tin, tuyên truyền và văn hóa của Thành phố. Sở trực tiếp
quản lý :

– Quản lý công tác thông tin tuyên truyền trong
toàn thành phố (hệ thống truyền thanh do đài phát thanh thành phố quản lý theo
quyết định của Hội đồng Chính phủ).

– Tổ chức, xây dựng, phát triển và quản lý phong
trào chung về văn hóa, văn nghệ quần chúng toàn thành phố.

– Quản lý tất cả các rạp hát và chiếu bóng quốc
doanh, công tư hợp doanh và cá thể. Quản lý các đội quốc doanh chiếu bóng lưu
động, các đoàn hát quốc doanh và tư nhân trong thành phố.

– Quản lý các đoàn văn nghệ quốc doanh, công
tư hợp doanh và tư nhân.

– Quản lý toàn bộ công tác xuất bản (sáng tác,
dịch thuật, in và phát hành).

– Quản lý toàn bộ công tác phát hành phim.

– Quản lý các cửa hàng văn hóa phẩm tổng hợp
quy mô lớn ở các điểm trung tâm quan trọng trong thành phố.

– Quản lý các nhà in quốc doanh, công tư hợp
doanh và cá thể.

– Quản lý các đài, tượng ở các nơi công cộng
và di tích lịch sử, bảo tồn bảo tàng, các thư viện, các khu triển lãm trong
thành phố.

– Quản lý, đào tạo bồi dưỡng văn nghệ sĩ của
thành phố.

b/ Quận, huyện :

– Chịu trách nhiệm quản lý công tác thông tin
tuyên truyền và văn hóa của địa phương, dưới sự chỉ đạo của Sở Văn hóa và thông
tin.

– Tổ chức, xây dựng, phát triển và quản lý phong
trào văn hóa, văn nghệ quần chúng trong quận, huyện.

– Quản lý các đoàn văn nghệ quốc doanh, công
tư hợp doanh và tư nhân được phân cấp quản lý.

– Quản lý các phòng thông tin và các phòng đọc
sách, các câu lạc bộ,các thư viện của quận, huyện. Quản lý các tiệm chụp hình,
các cửa hàng văn hóa phẩm, các đại lý bán sách của tư nhân và hợp tác xã.

– Quản lý các bãi chiếu bóng ngoài trời, các
mạng lưới thông tin trong quận, huyện.

– Riêng các huyện ngoại thành được quản lý một
số rạp hát, rạp chiếu bóng quốc doanh, các đội chiếu bóng lưu động của huyện.

16/ QUẢN LÝ CÔNGTÁC THỂ DỤC
THỂ THAO :

a/ Sở Thể dục thể thao chịu trách nhiệm quản
lý toàn bộ công tác thể dục thể thao trong Thành phố. Sở trực tiếp quản lý :

– Chịu trách nhiệm tổ chức chỉ đạo phong trào
thể dục thể thao quần chúng trong thành phố.

– Quản lý các sân bóng đá, bóng chuyền, bóng
rỗ, quần vợt, cầu lông có quy mô lớn.

– Quản lý các hồ bơi,

– Quản lý các thao trường luyện tập thể dục
thể thao, các cơ sở luyện tập võ thuật trong thành phố và Trường thể dục thể thao
của Thành phố.

– Quản lý các đội bóng đá, bóng chuyền, bóng
bàn, đua xe đạp, bơi lội chuyên nghiệp, v.v.. của Thành phố.

– Quản lý các câu lạc bộ thể dục thể thao lớn
ở trong thành phố.

– Quản lý một số cơ sở sản xuất dụng cụ thể
dục thể thao chuyên dùng phục vụ phong trào rèn luyện thân thể trong thành phố (các
xưởng sản xuất dụng cụ thể dục thể thao thông dụng, sản xuất hàng loạt do Sở
Công nghiệp quản lý).

b/ Quận, huyện :

– Tổ chức, xây dựng, phát triển và quản lý phong
trào thể dục thể thao quần chúng trong địa phương.

– Quản lý các cơ sở thể dục thể thao loại nhỏ
để luyện tập, phục vụ phong tào thể dục thể thao quần chúng. quản lý các độI
thể dục thể thao nghiệp dư trong quận, huyện.

– Quản lý, tổ chức và chỉ đạo, kiểm tra nội
dung hoạt động của các cơ sở thể dục thể thao tư nhân trong quận, huyện.

– Quản lý các cơ sở luyện tập võ thuật của tư
nhân (các cơ sở này hiện nay tạm thời cho ngưng hoạt động, chờ chủ trương của
thành phố).

– Xét cấp giấy phép hành nghề cho các cơ sở
thể dục thể thao tư nhân trong quận, huyện, đồng thời có biện pháp kiểm tra nội
dung hoạt động của các sơ sở này.

III.- ĐIỀU KHOẢN THI
HÀNH :

1/ Các sở, ban, ngành thành phố và Ủy ban nhân
dân quận, huyện cần tổ chức nghiên cứu Bản quy định tạm thời này để phân công và
phân cấp quản lý, vạch kế hoạch cụ thể triển khai thực hiện, nhất là bàn giao nhiệm
vụ theo sự phân công mới phải được thực hiện nhanh, gọn, nhằm đạt được yêu cầu
đề ra. Các sở, ban, ngành có trách nihệm tăng cường cán bộ, đào tạo, bồi
dưỡng, giúp đỡ về chuyên môn, nghiệp vụ cho các tổ chức của ngành mình ở cấp
quận, huyện để đủ sức đảm trách nhiệm vụ được phân công, phân cấp quản lý.

2/ Việc phân công quản lý một số mặt công tác
cụ thể cho phường, xã, các quận, huyện sẽ thực hiện theo sự hướng dẫn thống nhất
của Thành phố.

3/ Qua việc thực hiện sự phân công phân cấp
lần này, các sở, ban, ngành, các quận, huyện cần soát xét lại cơ cấu tổ chức và
biên chế hiện có để chấn chỉnh, tinh giản gọn nhẹ, giảm đầu mối trung gian và hoạt
động có hiệu quả thiết thực.

4/ Bản Quy định tạm thời này có hiệu lực thi
hành kể từ ngày ban hành. Các điều đã ban hành trong các văn bản trước của Ủy
ban nhân dân Thành phố, của cảc sở, ban, ngành trái với Bản Quy định này nay bãi
bỏ.

 

 

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ
Q. CHỦ TỊCH

Mai Chí Thọ

SOẠN HỢP ĐỒNG, ĐƠN, VĂN BẢN THEO YÊU CẦU CHỈ 500.000đ

--- Gọi ngay 1900.0191 ---

(Tư vấn Miễn phí - Hỗ trợ 24/7)

Công ty Luật LVN - Địa chỉ: Số 16B Nguyễn Thái Học, Yết Kiêu, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam

Gmail: luatlvn@gmail.com

HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ

 

CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

Số
: 304-CP

 


Nội, ngày 17 tháng 11 năm 1977

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ VIỆC THÀNH LẬP ỦY BAN VIỆT NAM ĐOÀN KẾT HỮU NGHỊ VỚI NHÂN
DÂN CẢ NƯỚC

HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ luật số 102-SL/L4 ngày
20-5-1957 quy định quyền lập hội;
Căn cứ quyết định số 40-CP ngày 26-2-1970 về việc chuyển giao một số nhiệm vụ của
Bộ Nội vụ về Phủ thủ tướng;
Theo đề nghị của Ban quốc tế nhân dân,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. –Nay cho phép thành lập Ủy ban Việt Nam đoàn kế hữu
nghị với nhân dân của nước. Ủy ban Việt Nam đoàn kết hữu nghị với nhân dân các
nước hoạt động theo điều lệ của Ủy ban kèm theo quyết định này.

Điều 2. –Các đồng chí Trưởng ban Ban quốc tế nhân dân và Ban tổ
chức của Chính phủ có trách nhiệm thi hành quyết định này.

 

T.M.
HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
K.T. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ.
PHÓ THỦ TƯỚNG

Phạm Hùng.

 

 

ĐIỀU LỆ

CỦA TỔ CHỨC ỦY BAN VIỆT NAM ĐOÀN KẾT HỮU NGHỊ VỚI NHÂN DÂN
CÁC NƯỚC

1. Tên gọi:

Ủy ban Việt
Nam đoàn kết hữu nghị với nhân dân cả nước.

2. Mục đích, tính chất : là một tổ chức nhân dân, lập
ra nhằm mục đích :

a) Tăng cường
sự hiểu biết lẫn nhau và tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân
dân các nước trên thế giới;

b) Củng cố,
duy trì và phát triển tình cảm tốt đẹp của nhân dân thế giới đối với nhân dân
Việt Nam. Tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân các nước đối với
sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ
nghĩa.

c) Ủng hộ và
giúp đỡ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân các nước trên thế giới chống chủ
nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới, vì những mục tiêu cao cả; hòa bình
độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

3. Nội dung và phương thức hoạt động của Ủy ban Việt Nam đoàn
kết hữu nghị với nhân dân các nước

a) Nội
dung hoạt động

– Giới thiệu
sự nghiệp đấu tranh cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta với
nhân dân các nước trên thế giới. Trên cơ sở đó, tranh thủ sự hiểu biết, đồng
tình ủng hộ và giúp đỡ ngày càng rộng rãi và mạnh mẽ của nhân dân các nước trên
thế giới về tinh thần, chính trị và vật chất đối với sự nghiệp đấu tranh cách mạng
và xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta.

– Giới thiệu
với nhân dân ta sự nghiệp đấu tranh cách mạng và xây dựng đất nước của nhân dân
các nước trên thế giới nhằm tăng cường lòng yêu nước và tinh thần quốc tế vô sản
của nhân dân ta, động viên nhân dân ta ra sức xây dựng thành công chủ nghĩa xã
hội, đồng thời tăng cường tinh thần đoàn kết hữu nghị, ủng hộ và giúp đỡ công
cuộc đấu tranh cách mạng và xây dựng đất nước của nhân dân các nước trên thế giới.

b) Phương
thức hoạt động:

– Hoạt động của
Ủy ban Việt Nam đoàn kết hữu nghị với nhân dân các nước có tính chất quần chúng
như tổ chức nói chuyện, mít tinh, chiếu phim, triển lãm, tọa đàm, viết báo, xuất
bản sách v.v…

– Ủy ban sẽ
tiếp các đoàn đại biểu nhân dân các nước tới thăm hữu nghị nước ta và cử các
đoàn đại biểu nhân dân ta đi thăm hữu nghị nhân dân cả nước.

– Ủy ban Việt
Nam đoàn kết hữu nghị với nhân dân các nước sẽ phối hợp và cộng tác chặt chẽ với
các tổ chức nhân dân, các tổ chức hòa bình, đoàn kết hữu nghị sẵn có trong mọi
hoạt động.

Các Ủy ban
đoàn kết, các hội hữu nghị tay đôi giữa nhân dân ta và nhân dân từng nước trên
thế giới đã được lập ra trước đây vẫn tồn tại và đẩy mạnh hoạt động của mình.

– Ủy ban sẽ
phối hợp chặt chẽ với cơ quan thông tin, tuyên truyền của Nhà nước để trao đổi
và thực hiện những nội dung tuyên truyền giới thiệu nước ta ra thế giới và
tuyên truyền giới thiệu công cuộc đấu tranh và xây dựng của nhân dân các nước với
nhân dân ta.

– Khi hoạt động
tại các địa phương trong cả nước, Ủy ban Việt Nam đoàn kết hữu nghị với nhân
dân các nước sẽ dựa vào các tổ chức địa phương của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn
thể nhân dân trong mặt trận, các sở, phòng ngoại vụ của các Ủy ban nhân dân các
tỉnh và thành phố.

4. Tổ chức của Ủy ban và bộ máy làm việc:

Ủy ban Việt
Nam đoàn kết hữu nghị với nhân dân các nước và bộ máy làm việc của Ủy ban được
tổ chức theo phương châm: tiêu biểu cho cả nước, gọn nhẹ, hợp lý, phù hợp với
công việc thực tế của Ủy ban.

a) Ủy ban có
Đoàn chủ tịch và Ban thư ký gồm các đồng chí chủ chốt của các tổ chức hòa bình,
đoàn kế hữu nghị và của các đoàn thể nhân dân.

b) Ngoài cơ
quan trung ương của Ủy ban đóng tại Hà Nội, sẽ tiến tới lập một phân ban của Ủy
ban Việt Nam đoàn kết hữu nghị với nhân dân các nước tại thành phố Hồ Chí Minh.

Sau này, khi
xét thấy cần thiết, có thể lập thêm các phân ban ở các tỉnh, thành phố khác xã
trung ương.

c) Bộ máy
giúp việc của Ủy ban hiện nay là bộ máy của cơ quan Ban quốc tế nhân dân.

5. Trụ sở của Ủy ban :

a) Tại Hà
Nội:

Trụ sở của Ủy
ban Việt Nam đoàn kết hữu nghị với nhân dân các nước cần có bộ mặt tương đối
khang trang và sẽ là nơi đón tiếp nhiều khách quốc tế thuộc nhiều thành phần xã
hội khách nhau từ tất cả các nước trên thế giới đến thăm ta.

Trong khi chờ
đợi có được một ngôi nhà đáp ứng yêu cầu trên đây, trụ sở của Ủy ban Việt Nam
đoàn kết hữu nghị với nhân dân các nước tạm đặt tại trụ sở của Ủy ban trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam số 46 Tràng Thi Hà Nội.

b) Tại
Thành phố Hồ Chí Minh

Cũng cần có một
trụ sở tương đối khang trang của Ủy ban Việt Nam đoàn kết hữu nghị với nhân dân
các nước tại thành phố Hồ Chí Minh.

6. Sinh hoạt

a) Cứ giữa
năm và cuối năm, Đoàn chủ tịch của Ủy ban Việt Nam đoàn kết hữu nghị với nhân
dân các nước họp một lần để kiểm điểm công tác đã qua và bàn định chương trình
công tác thời gian sau đó.

Ban thư ký có
trách nhiệm chuẩn bị và báo cáo về công tác trong các kỳ hội nghị của Đoàn chủ
tịch và dự thảo chương trình công tác sau đó để Đoàn chủ tịch quyết định.

b) Đoàn chủ tịch
phân công một vị thường trực thay mặt Đoàn chủ tịch chỉ đạo Ban thư ký tiến
hành công việc của Ủy ban, rồi thông báo lại với các vị trong Ủy ban.

HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ

 

CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

Số
: 304-CP

 


Nội, ngày 17 tháng 11 năm 1977

SOẠN HỢP ĐỒNG, ĐƠN, VĂN BẢN THEO YÊU CẦU CHỈ 500.000đ

--- Gọi ngay 1900.0191 ---

(Tư vấn Miễn phí - Hỗ trợ 24/7)

Công ty Luật LVN - Địa chỉ: Số 16B Nguyễn Thái Học, Yết Kiêu, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam

Gmail: luatlvn@gmail.com

BỘ
Y TẾ
******

CỘNG
HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********

Số:
41-BYT/TT


Nội, ngày 17 tháng 11 năm 1977

 

THÔNG TƯ

HƯỚNG DẪN THI HÀNH CHẾ ĐỘ DƯỠNG BỆNH ĐỐI VỚI NHÂN DÂN KHI ỐM
ĐAU ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN

Thi hành thông tư liên Bộ Y tế – Tài chính số
28-TT/LB ban hành ngày 14-09-1977 quy định chế độ chữa bệnh đối với nhân dân
khi ốm đau điều trị nội trú tại bệnh viện, Bộ Y tế quy định và hướng dẫn về mức
ăn của người bệnh trong bệnh viện, về phần tiền ăn hàng ngày mà người bệnh tự
đài thọ và biện pháp quản lý như sau:

I. MỨC ĂN CỦA NGƯỜI BỆNH TRONG BỆNH VIỆN

Trong bệnh viện người bệnh được nuôi dưỡng theo
chế độ bệnh lý với các mức ăn sau đây:

1. Mức ăn cơ bản được xác định từ chế độ ăn cơ bản
để nuôi dưỡng người bệnh theo yêu cầu chữa bệnh thông thường trong bệnh viện là
định suất ăn có bồi dưỡng hàng ngày của người bệnh với chế độ dinh dưỡng tối
thiểu.

Mức ăn cơ bản được quy định hai mức: 0,80đ/ngày
và 1đ/ngày; tùy theo tình hình kinh tế địa phương, cơ quan y tế đề nghị Ủy ban
nhân dân địa phương quyết định việc nuôi dưỡng người bệnh theo một trong hai mức
nói trên: đối với các bệnh viện trung ương, mức ăn cơ bản được quy định thống
nhất là 1đ/ngày.

2. Mức ăn bệnh lý được xác định từ chế độ ăn bệnh
lý để nuôi dưỡng người bệnh theo yêu cầu chữa bệnh khẩn trương trong một thời
gian nhất định là định suất ăn có bồi dưỡng cao hơn mức ăn cơ bản với chế độ
dinh dưỡng cần thiết.

Việc nuôi dưỡng người bệnh theo chế độ ăn bệnh
lý do bệnh viện trưởng (hoặc người được ủy quyền) căn cứ vào tình trạng bệnh và
sức khỏe của người bệnh mà quyết định về thời gian và mức ăn bệnh lý thích hợp,
vừa bảo đảm cho người bệnh ăn uống đáp ứng được yêu cầu của điều trị, vừa bảo đảm
được định mức kinh phí đã quy định.

II. PHẦN TIỀN ĂN HÀNG NGÀY NGƯỜI BỆNH TỰ ĐÀI THỌ.

Thông tư liên bộ đã quy định nhân dân khi ốm đau
điều trị nội trú tại bệnh viện do Nhà nước quản lý thì Nhà nước đài thọ mọi khoản
chi phí về chữa bệnh, bao gồm chi phí về thuốc men, bồi dưỡng và các chi phí
khác phục vụ việc chữa bệnh (điểm 1, phần I).

Nhà nước đài thọ thêm phần tiền ăn hàng ngày cho
những người bệnh thuộc diện cứu tế của quỹ bảo hiểm xã hội ở địa phương (điểm
2a, phần I). Nhà nước cũng sẽ xét trợ cấp một phần tiền ăn hàng ngày kể từ
tháng thứ hai trở đi cho những người bệnh phải nằm điều trị liên tục ở các bệnh
viện từ 30 ngày trở lên, nếu gia đình thực sự khó khăn (điểm 2b, phần I).

Những người không thuộc diện nói trên, trong thời
gian điều trị nội trú tại bệnh viện phải tự đài thọ phần tiền ăn hàng ngày của
mình (điểm 2c, phần I).

Phần ăn tiền hàng ngày người bệnh tự đài thọ được
quy định là 0,60đ/ngày (kể cả khi ăn theo mức cơ bản hoặc mức ăn bệnh lý).

Số chênh lệch giữa mức ăn cơ bản và mức ăn bệnh
lý với phần tiền ăn hàng ngày người bệnh tự đài thọ là khoản chi về bồi dưỡng
do Nhà nước đài thọ và đã được tính trong định mức chi giường bệnh.

III. BIỆN PHÁP QUẢN LÝ

1. Điểm 2 phần II thông tư liên bộ quy định:
“…khoản trợ cấp tiền ăn hàng ngày cho người bệnh nói ở điểm 2, điểm 3 phần I sẽ
do cơ quan tài chính cấp kinh phí ngoài định mức chi giường bệnh…”.

Để có kinh phí bảo đảm chi cho phần tiền ăn hàng
ngày của những người bệnh thuộc diện được Nhà nước trợ cấp, bệnh viện cần lập dự
trù một quý đầu gửi cơ quan y tế xét duyệt với tỷ lệ 25% số giường bệnh dành riêng
cho nhân dân trong bệnh viện X 0,60đ X số ngày giường điều trị trong quý (thí dụ
một bệnh viện tuyến huyện có 100 giường bệnh, trong đó có 80 người bệnh dành
riêng cho nhân dân :

25% X 80 X 0,60đ
X 340 = 102 đ).

 4

Cơ quan y tế xét duyệt và tổng hợp dự trù gửi cơ
quan tài chính xét cấp khoản chi phí nói trên.

Khi hết quý, bệnh viện báo cáo cụ thể tình hình
sử dụng phần kinh phí này cho cơ quan y tế và cơ quan tài chính để xin cấp bổ
sung kinh tế, nếu còn thiếu. Từ quý sau trở đi, bệnh viện lập dự trù theo tỷ lệ
thực tế số ngày giường của những người thuộc diện được Nhà nước trợ cấp của quý
trước và thanh toán với cơ quan y tế, cơ quan tài chính theo thực chi hàng quý.

2. Điểm 1, phần II thông tư liên bộ quy định: “…
Ủy ban nhân dân xã căn cứ vào quy định tại điểm 2a, 2b phần I và hoàn cảnh thực
tế của gia đình người bệnh có thuộc hay không thuộc đối tượng được Nhà nước đài
thọ phần tiền ăn hàng ngày mà xét cấp giấy xác nhận”.

Để thuận tiện cho việc đài thọ và xét trợ cấp phần
tiền ăn hàng ngày cho người bệnh thuộc diện Nhà nước trợ cấp, Bộ Y tế xin gửi
kèm theo thông tư này hai mẫu giấy xác nhận hoàn cảnh kinh tế gia đình người bệnh,
đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố hướng dẫn Ủy ban nhân dân xã
(hoặc chính quyền cấp tương đương) việc xét đơn và cấp giấy xác nhận hoàn cảnh
kinh tế gia đình người bệnh cho những đối tượng được hưởng theo mẫu quy định(1)
.

Bệnh viện là nơi trực tiếp xét trợ cấp phần tiền
ăn hàng ngày cho người bệnh do đó cần nắm vững các quy định trong thông tư liên
bộ mà chấp nhận đúng mức đề nghị của Ủy ban nhân dân xã đối với từng người, nhất
là đối với người bệnh nói ở điểm 2b phần I phải do bệnh viện trưởng (hoặc người
được ủy quyền) ký duyệt trợ cấp trên giấy xác nhận hoàn cảnh kinh tế của từng
người bệnh để làm cơ sở thanh toán với cơ quan y tế và cơ quan tài chính.

3. Do việc thực hiện chế độ chữa bệnh đối với
nhân dân khi ốm đau điều trị nội trú tại bệnh viện mới ban hành, phần việc kế
toán viện phí trước đây ở bệnh viện sẽ giảm đi rõ rệt, bệnh viện cần bố trí lại
nhân viên kế toán cho hợp lý nhưng phải bảo đảm nguyên tắc kế toán không được
trực tiếp thu tiền ăn và tem lương thực của người bệnh (chỉ có thủ quỹ hoặc người
được ủy nhiệm thu ngân mới được thu tiền và tem lương thực).

Để tránh việc thất thu tem lương thực và phần tiền
ăn hàng ngày người bệnh tự đài thọ, bệnh viện cần quy định hợp lý mức tiền và
tem lương thực người bệnh phải nộp trước cho bệnh viện ngay từ khi vào nằm điều
trị. Đối với những người bệnh được cơ quan lương thực xét trợ cấp lương thực, bệnh
viện phải yêu cầu người bệnh nộp đủ giấy tờ hợp lệ để việc xét cấp được dễ
dàng, tránh tình trạng người bệnh đã ra viện chưa được thanh toán sòng phẳng hoặc
chưa đủ giấy tờ bảo đảm thanh toán, gân khó khăn cho hoạt động của bệnh viện.

4. Về sổ sách theo dõi tiền bồi dưỡng, tiền ăn,
bệnh viện phải tổ chức ghi chép thật chu đáo, đảm bảo yêu cầu chính xác,
rõ ràng phần người bệnh tự đài thọ, phần quyết toán với ngân sách, nhất là phần
tiền ăn hàng ngày của người bệnh thuộc diện được Nhà nước trợ cấp phải phù hợp
với số kinh phí được cơ quan tài chính cấp ngoài định mức.

Để giảm bớt việc ghi chép các khoản chi phí chữa
bệnh ở tài khoản 20 “Thanh toán với người bệnh”, trước mắt bệnh viện không sử dụng
điều khoản 20.1 “Tiền thuốc”; khoản tiền thuốc dùng cho người bệnh được ghi thẳng
vào tài khoản 10 “Chi ngân sách”. Riêng khoản chi về tiền ăn và tiền bồi dưỡng,
bệnh viện cần hạch toán rõ phần tiền ăn người bệnh tự đài thọ; phần tiền ăn được
ngân sách cấp ngoài định mức và tiền bồi dưỡng đã tính trong định mức chi giường
bệnh.

Trên đây là một số vấn để cụ thể Bộ Y tế quy định
và hướng dẫn, đề nghị các địa phương, các bệnh viện trong khi thi hành, nếu gặp
khó khăn, vướng mắc gì xin phản ánh về Bộ Y tế để góp ý kiến giải quyết.

 

KT. BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ
THỨ TRƯỞNG
BÁC SĨ


Hoàng Đình Cầu

 

SOẠN HỢP ĐỒNG, ĐƠN, VĂN BẢN THEO YÊU CẦU CHỈ 500.000đ

--- Gọi ngay 1900.0191 ---

(Tư vấn Miễn phí - Hỗ trợ 24/7)

Công ty Luật LVN - Địa chỉ: Số 16B Nguyễn Thái Học, Yết Kiêu, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam

Gmail: luatlvn@gmail.com

PHỦ THỦ TƯỚNG
********

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA   
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********

Số: 305-CP

Hà Nội, ngày 17 tháng 11 năm 1977

 

QUYẾT ĐỊNH

CỦA HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ SỐ 305-CP NGÀY 17 THÁNG 11 NĂM 1977 BỔ SUNG CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ VÀ CẢI TẠO XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ĐỐI VỚI NHÀ, ĐẤT Ở ĐÔ THỊ CÁC TỈNH MIỀN NAM

HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ

Tiếp theo bản tuyên bố của Chính phủ về chính sách đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Nam hiện nay và Quyết định số 111/CP ngày 14-4-77 của Hội đồng Chính phủ ban hành chính sách quản lý và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nhà đất ở đô thị các tỉnh miền Nam;

Để tăng cường quản lý nhà đất và đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư nhân ở các tỉnh miền Nam’

Theo đề nghị của đồng chí Bộ trưởng Bộ Xây dựng và của đồng chí Trưởng ban Cải tạo công nghiệp tư doanh trung ương;

Để bổ sung một số điểm trong chính sách quản lý và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nhà đất ở các đô thị các tỉnh miền Nam.

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Nay thay đổi đề mục văn bản tên gọi của chính sách ban hành kèm theo Quyết định 111/CP ngày 14-4-77 là “Chính sách quản lý và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nhà đất ở đô thị các tỉnh miền Nam”.

Điều 2: Bãi bỏ các điều qui định trong điểm 2 mục IV của văn bản chính sách ban hành kèm theo QĐ 111/CP và thay thế bằng đoạn sau đây:

“Đối với nhà cửa đất đai, của những người sau đây:

– Sĩ quan quân đội Mỹ nguỵ ở cấp thiếu tá trở lên,

– Sĩ quan cảnh sát Mỹ nguỵ từ cấp trung uý trở lên,

– Những người làm việc trong bộ máy cai trị của chính quyền Mỹ nguỵ đã giữ chức vụ từ Chủ sự phòng trở lên ở cơ quan trung ương, từ Ty phó, Quận phó trở lên ở các cơ quan địa phương,

– Các phần tử ác ôn, mật vụ tình báo, chiêu hồi cố tình phản cách mạng,

– Những người tham gia các tổ chức đảng phái phản động đã giữ chức vụ lãnh đạo từ cấp huyện, quận trở lên thì tuỳ theo thái độ chính trị trước và hiện nay, tuỳ theo tội ác đối với nhân dân nhiều hay ít và tuỳ theo nguồn gốc giá trị sử dụng nhà cửa đất đai của họ mà Nhà nước tịch thu, trưng thu, trưng dụng, trưng mua hoặc để cho họ sử dụng.

Đối với những người khác không thuộc diện Nhà nước xử lý nhà đất của họ nhưng vì thái độ chính trị của họ phản động, có nhiều nợ máu với nhân dân, quần chúng căm ghét, yêu cầu xử lý thì căn cứ vào chính sách chung và quyết định”.

 

Phạm Hùng

(Đã ký)

 

PHỦ THỦ TƯỚNG
********

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA   
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********

Số: 305-CP

Hà Nội, ngày 17 tháng 11 năm 1977

 

QUYẾT ĐỊNH

CỦA HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ SỐ 305-CP NGÀY 17 THÁNG 11 NĂM 1977 BỔ SUNG CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ VÀ CẢI TẠO XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ĐỐI VỚI NHÀ, ĐẤT Ở ĐÔ THỊ CÁC TỈNH MIỀN NAM

HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ

Tiếp theo bản tuyên bố của Chính phủ về chính sách đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Nam hiện nay và Quyết định số 111/CP ngày 14-4-77 của Hội đồng Chính phủ ban hành chính sách quản lý và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nhà đất ở đô thị các tỉnh miền Nam;

Để tăng cường quản lý nhà đất và đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư nhân ở các tỉnh miền Nam’

Theo đề nghị của đồng chí Bộ trưởng Bộ Xây dựng và của đồng chí Trưởng ban Cải tạo công nghiệp tư doanh trung ương;

Để bổ sung một số điểm trong chính sách quản lý và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nhà đất ở các đô thị các tỉnh miền Nam.

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Nay thay đổi đề mục văn bản tên gọi của chính sách ban hành kèm theo Quyết định 111/CP ngày 14-4-77 là “Chính sách quản lý và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nhà đất ở đô thị các tỉnh miền Nam”.

Điều 2: Bãi bỏ các điều qui định trong điểm 2 mục IV của văn bản chính sách ban hành kèm theo QĐ 111/CP và thay thế bằng đoạn sau đây:

“Đối với nhà cửa đất đai, của những người sau đây:

– Sĩ quan quân đội Mỹ nguỵ ở cấp thiếu tá trở lên,

– Sĩ quan cảnh sát Mỹ nguỵ từ cấp trung uý trở lên,

– Những người làm việc trong bộ máy cai trị của chính quyền Mỹ nguỵ đã giữ chức vụ từ Chủ sự phòng trở lên ở cơ quan trung ương, từ Ty phó, Quận phó trở lên ở các cơ quan địa phương,

– Các phần tử ác ôn, mật vụ tình báo, chiêu hồi cố tình phản cách mạng,

– Những người tham gia các tổ chức đảng phái phản động đã giữ chức vụ lãnh đạo từ cấp huyện, quận trở lên thì tuỳ theo thái độ chính trị trước và hiện nay, tuỳ theo tội ác đối với nhân dân nhiều hay ít và tuỳ theo nguồn gốc giá trị sử dụng nhà cửa đất đai của họ mà Nhà nước tịch thu, trưng thu, trưng dụng, trưng mua hoặc để cho họ sử dụng.

Đối với những người khác không thuộc diện Nhà nước xử lý nhà đất của họ nhưng vì thái độ chính trị của họ phản động, có nhiều nợ máu với nhân dân, quần chúng căm ghét, yêu cầu xử lý thì căn cứ vào chính sách chung và quyết định”.

 

Phạm Hùng

(Đã ký)

 

SOẠN HỢP ĐỒNG, ĐƠN, VĂN BẢN THEO YÊU CẦU CHỈ 500.000đ

--- Gọi ngay 1900.0191 ---

(Tư vấn Miễn phí - Hỗ trợ 24/7)

Công ty Luật LVN - Địa chỉ: Số 16B Nguyễn Thái Học, Yết Kiêu, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam

Gmail: luatlvn@gmail.com

HỘI
ĐỒNG CHÍNH PHỦ
*******

CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
*******

Số:
277-CP


Nội, ngày 10 tháng 10 năm 1977

 

QUYẾT ĐỊNH

CHO
PHÉP TỔNG CỤC THỂ DỤC THỂ THAO MỞ MỘT LỚP ĐẠI HỌC THỂ DỤC, THỂ THAO Ở PHÍA NAM

HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ

Để bảo đảm nhu cầu về cán bộ thể
dục thể thao có trình độ đại học cho các tỉnh phía Nam;
Căn cứ vào Nghị định số 171-CP ngày 20-11-1963 của Hội đồng Chính phủ ban hành quy
chế về việc mở trường và lớp đại học và trung học chuyên nghiệp;
Căn cứ vào đề nghị của Tổng cục thể dục thể thao, Bộ Đại học và trung học chuyên
nghiệp và Ủy ban Kế hoạch Nhà nước,

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1. Trong khi chờ đợi xác
định mạng lưới chính thức các trường đại học trong cả nước, cho phép Tổng cục
thể dục thể thao mở ở phía Nam một lớp đại học thể dục thể thao. Lớp này thuộc
Trường đại học thể dục thể thao Từ sơn, và đặt tại trường trung học thể dục thể
thao trung ương 2 (thành phố Hồ Chí Minh).

Điều 2. Các chính sách, chế
độ, thể lệ, v.v… áp dụng cho trường học thể dục thể thao Từ Sơn đều được thi
hành đối với lớp đại học thể dục thể thao nói trên.

Điều 3. Các đồng chí Tổng cục
trưởng Tổng cục Thể dục thể thao, Bộ trưởng Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp,
Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước có trách nhiệm thi hành quyết định này.

 

 

TM.
HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
KT. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
PHÓ THỦ TƯỚNG

Phạm Hùng

 

SOẠN HỢP ĐỒNG, ĐƠN, VĂN BẢN THEO YÊU CẦU CHỈ 500.000đ

--- Gọi ngay 1900.0191 ---

(Tư vấn Miễn phí - Hỗ trợ 24/7)

Công ty Luật LVN - Địa chỉ: Số 16B Nguyễn Thái Học, Yết Kiêu, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam

Gmail: luatlvn@gmail.com

ỦY
BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
——-

CỘNG
HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
———

Số:
575/QĐ-UB

Tp.
Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 10 năm 1977

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ
VIỆC BAN HÀNH QUY ĐỊNH “BẢN QUY ĐỊNH TẠM THỜI VỀ PHÂN CÔNG QUẢN LÝ GIỮA CÁC SỞ,
BAN, NGÀNH CỦA THÀNH PHỐ VÀ CẤP QUẢN LÝ GIỮA CẤP THÀNH PHỐ VÀ CẤP QUẬN, HUYỆN”

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH

– Căn cứ vào Luật
tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp ngày 27 tháng 10 năm
1962 ;
– Căn cứ vào bản Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của chính quyền
Nhà nước cấp tỉnh trong lĩnh vực quản lý kinh tế, ban hành kèm theo Nghị định số 24-CP, ngày 02/02/1976
của Hội đồng Chính phủ ;
– Căn cứ vào Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố lần thứ nhất, đã đề ra
phương hướng phân công, phân cấp quản lý ở Thành phố ;
– Để ổn định dần từng bước việc phân công và phân cấp quản lý các mặt kinh tế, văn
hóa, xã hội song song với việc triển khai công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa và
cải tiến, xây dựng ổn định dần tổ chức và quản lý kinh tế của Thành phố,

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1.- Nay ban hành kèm
theo quyết định này, “Bản quy định tạm thời về phân công quản lý giữa các Sở,
Ban, Ngành của Thành phố và phân cấp quản lý giữa cấp Thành phố và cấp Quận,
Huyện.

Điều 2.- Các Sở, Ban,
Ngành trực thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố, trong phạm vi trách nhiệm của mình,
phải quán triệt và cụ thể hóa những quy định này trong Bản quy định về tổ chức
và hoạt động của cơ quan mình và trong việc phân cấp quản lý cụ thể cho các
Phòng chuyên môn thuộc ngành mình ở Quận, Huyện.

Ủy ban nhân dân các Quận, Huyện
phải quán triệt và cụ thể hóa những điều quy định này trong việc lãnh đạo, chỉ
đạo các Phòng chuyên môn trực thuộc Ủy ban và trong công tác thực tiễn.

Ban Tổ chức chánh quyền giúp Ủy
ban nhân dân Thành phố tổ chức thực hiện, kiểm tra đôn đốc các ngành các cấp
nghiêm chỉnh thực hiện Bản Quy định tạm thời này và kịp thời sơ kết tổng kết
báo cáo Ủy ban nhân dân bổ sung cho hoàn chỉnh.

Điều 3.- Các đồng chí
Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố, Trưởng Ban Tổ chức Chánh quyền, Thủ
trưởng các Sở, Ban, Ngành trực thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố, Chủ tịch Ủy ban
nhân dâncác Quận, Huyện có trách nhiệm thi hành quyết định này.

 

 

Nơi nhận:
-Như điều 3
-Văn phòng Thủ tướng
-Bộ phận BTC TƯ tại TP
-Các đ/c Ban TV. Thành ủy
-Các đ/c TT. UBND Thành phố
-Các Sở, Ban, Ngành Thành phố
-Ban Tổ chức Chính phủ (Hà Nội)
-VP. Thành ủy và các Ban của TU
-Mặt trận và các Đoàn thể q/c TP
-UBND các Quận, Huyện
-Lưu VF. UB và BTC Chính quyền  

TM.
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
Q. CHỦ TỊCH

Mai Chí Thọ

 

 

Nơi nhận:
-Như điều 3
-Văn phòng Thủ tướng
-Bộ phận BTC TƯ tại TP
-Các đ/c Ban TV. Thành ủy
-Các đ/c TT. UBND Thành phố
-Các Sở, Ban, Ngành Thành phố
-Ban Tổ chức Chính phủ (Hà Nội)
-VP. Thành ủy và các Ban của TU
-Mặt trận và các Đoàn thể q/c TP
-UBND các Quận, Huyện
-Lưu VF. UB và BTC Chính quyền  

TM.
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
Q. CHỦ TỊCH

Mai Chí Thọ

SOẠN HỢP ĐỒNG, ĐƠN, VĂN BẢN THEO YÊU CẦU CHỈ 500.000đ

--- Gọi ngay 1900.0191 ---

(Tư vấn Miễn phí - Hỗ trợ 24/7)

Công ty Luật LVN - Địa chỉ: Số 16B Nguyễn Thái Học, Yết Kiêu, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam

Gmail: luatlvn@gmail.com

BỘ
THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
******

CỘNG
HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********

Số:
16-TBXH


Nội, ngày 11 tháng 10 năm 1977

 

THÔNG TƯ

HƯỚNG DẪN THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH SỐ 208-CP NGÀY 20-07-1977 CỦA
HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ VỀ CHẾ ĐỘ ĐÃI NGỘ ĐỐI VỚI NHỮNG NGƯỜI VÀ GIA ĐÌNH CÓ CÔNG VỚI
CÁCH MẠNG.

Ngày 20 tháng 07 năm 1977, Hội đồng Chính phủ có
quyết định số 208-CP về chế độ đãi ngộ đối với những người và gia đình có công
với cách mạng.

Để thi hành quyết định nói trên. Bộ Thương binh
và xã hội giải thích và hướng dẫn cụ thể một số điểm sau đây.

I. MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA CỦA VIỆC BAN HÀNH CHẾ ĐỘ

Trong sự nghiệp cách mạng lâu dài và gian khổ của
nhân dân ta, ngay trước ngày tổng khởi nghĩa (8-1945) khi chưa có chính quyền
hoặc trong kháng chiến ở những vùng bị địch kìm kẹp, nhiều người và gia đình đã
có công giúp đỡ cách mạng, Đảng và Nhà nước ta đánh giá cao những công lao,
thành tích đó. Ngay sau khi Cách mạng tháng tám thành công, Tổng bộ Việt Minh
đã tặng bằng Có công với nước và Đồng tiền vàng cho những người và gia đình có
công giúp đỡ cách mạng trong thời gian trước ngày Tổng khởi nghĩa (19-08-1945).
Sau khi cuộc kháng chiến thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, Chính phủ đã có những
quy định khen thưởng những người và gia đình có công giúp đỡ cách mạng trong
kháng chiến chống Pháp. Việc khen thưởng này đã được tiến hành một cách liên tục
và rộng khắp ở các tỉnh phía Bắc.

Về đãi ngộ vật chất, tuy Nhà nước chưa có quy định
thành chế độ toàn diện và thống nhất, nhưng các địa phương tùy theo hoàn cảnh cụ
thể của từng nơi, đều đã có sự quan tâm chăm sóc, giúp đỡ những người và gia
đình có công với cách mạng.

Ngày nay, sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc
của nhân dân ta đã giành được thắng lợi hoàn toàn và vĩnh viễn. Tổ quốc ta đã
thật sự độc lập, tự do và thống nhất. Việc quy định chính sách một cách toàn diện
đối với những người và gia đình có công với cách mạng để thi hành thống nhất
trong cả nước là một yêu cầu cấp thiết.

Nghị quyết đại hội lần thứ IV của Đảng đã chỉ
rõ: “Những người và gia đình có công với cách mạng cần được nêu gương và khen
thưởng thích đáng và được giúp đỡ chu đáo những khi gặp khó khăn”.

Trong thông tri số 16-TT/TW ngày 25-06-1977 về
việc tăng cường lãnh đạo công tác thương binh và xã hội, Ban Bí thư trung ương
Đảng cũng đã nhắc các ngành, các cấp cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, phát
huy đầy đủ vai trò và khả năng to lớn của quần chúng để giúp đỡ các gia đình có
công với cách mạng.

Như vậy, cùng với việc nêu gương, khen thưởng,
việc Hội đồng Chính phủ ban hành các chế độ đãi ngộ về vật chất để thi hành thống
nhất trong cả nước trong tình hình hiện nay làm cho chính sách đối với những
người và gia đình có công với cách mạng ngày càng toàn diện hơn. Nó thể hiện sự
quan tâm chăm sóc, sự ăn ở trọn nghĩa vẹn tình của Đảng, Nhà nước và nhân dân
ta đối với những người và gia đình có công với cách mạng, tạo điều kiện để việc
chăm sóc được thiết thực, cụ thể và thống nhất hơn, đồng thời góp phần động
viên nhân dân ta phát huy truyền thống cách mạng, tiếp tục cống hiến cho sự
nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới.

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ ĐIỀU KIỆN ĐƯỢC HƯỞNG CHẾ ĐỘ ĐÃI NGỘ 

1. Những người và gia đình có công với cách mạng
là những người và gia đình có công trực tiếp giúp đỡ cách mạng khi chưa giành
được chính quyền, hoặc trong vùng bị địch kìm kẹp, khủng bố gắt gao…; sự giúp đỡ
này nếu bị lộ sẽ dẫn đến nguy hiểm cho người giúp đỡ cách mạng về tính mạng,
tài sản như bị địch bắt bớ, tù đày, sát hại, triệt phá nhà cửa v.v…

a) Người có công với cách mạng được hưởng chế độ
đãi ngộ là người đã trực tiếp giúp đỡ cách mạng, được đứng tên trong quyết định
khen thưởng.

b) Gia đình có công với cách mạng là gia đình có
chủ gia đình và ít nhất là một người thân nữa trở lên (bố, mẹ, vợ hoặc chồng,
con…) cùng sống chung trong gia đình lúc đó đã trực tiếp giúp đỡ cách mạng.

Trong gia đình có công với cách mạng chỉ người có
công chủ yếu được đứng tên trong quyết định khen thưởng và những người đã trực
tiếp có công giúp đỡ cách mạng được xác nhận trong hồ sơ khen thưởng, mới được
hưởng chế độ đãi ngộ.

2. Do tính chất, quy mô của cuộc đấu tranh cách
mạng của nhân dân ta rất rộng lớn, lâu dài và gian khổ, nên số người và gia
đình có công với cách mạng trong cả nước rất đông mà công lao thành tích của từng
người, từng gia đình trong từng giai đoạn cách mạng cũng khác nhau và chế độ
đãi ngộ đối với những người và gia đình có công với cách mạng lại phải căn cứ
vào khả năng thực tế của đất nước.

Vì vậy, Hội đồng Chính phủ đã quy định đối tượng
được hưởng chế độ đãi ngộ trong quyết định số 208-CP gồm những người và gia
đình là nhân dân có công giúp đỡ cách mạng và kháng chiến sau đây:

a) Những người và gia đình có công giúp đỡ cách
mạng trước ngày Tổng khởi nghĩa (19-08-1945), đã được khen thưởng theo thông tư
số 83-TTg ngày 22-08-1962 của Phủ thủ tướng, với các hình thức:

– Kỷ nhiệm chương Tổ quốc ghi công, kèm theo bằng
Có công với nước;

– Bằng Có công với nước;

b) Những người và gia đình có công trong kháng
chiến chống Pháp đã được tặng thưởng huân chương kháng chiến chống Pháp đã được
tặng thưởng huân chương kháng chiến theo thông tư số 84-TTg ngày 22-8-1962 của
Phủ thủ tướng.

Đối với hình thức khen thưởng khác tương đương,
thì sau này nếu có quy định hình thức khen thưởng mới, Bộ Thương binh và xã hội
sẽ có hướng dẫn sau;

c) Riêng về những người và gia đình có công với
cách mạng trong cả nước chưa được khen thưởng (gồm những người và gia đình có
công với cách mạng ở các tỉnh phía Nam và có công trong kháng chiến chống Mỹ ở
các tỉnh phía Bắc), thì giải quyết theo như hướng dẫn ở điểm 1 phần IV của
thông tư này.

Những người và gia đình có công giúp đỡ cách mạng
ở mức được tặng thưởng huy chương kháng chiến hoặc bằng khen và những người, những
gia đình được khen thưởng vì công lao, thành tích khác, không thuộc đối tượng
được hưởng chế độ đãi ngộ nói ở quyết định số 208-CP.

3. Những người và gia đình có công với cách mạng
được hưởng chế độ đãi ngộ phải là những người và gia đình luôn luôn có biểu hiện
tốt đối với cách mạng, chấp hành các chính sách của Đảng và Chính phủ, và tuân
theo pháp luật của Nhà nước. Những người và gia đình có công với cách mạng,
nhưng sau khi giúp đỡ cách mạng, đã phạm vào một trong những trường hợp dưới
đây trong chế độ ta mà không được công nhận là người hoặc gia đình có công với
cách mạng, thì không được hưởng chế độ đãi ngộ:

 – Có hành động phản bội, đầu hàng, làm tay
sai cho địch;

 – Bị tước quyền công dân;

 – Bị tòa án cách mạng xử phạt tù hoặc bị
quản chế;

III. CÁC CHẾ ĐỘ ĐÃI NGỘ 

Tinh thần chung của chính sách đối với những người
và gia đình có công với cách mạng là nêu gương, khen thưởng thích đáng và giúp
đỡ những khi gặp khó khăn.

Phương hướng giải quyết đối với những người và
gia đình có công với cách mạng là tạo điều kiện cho những người và gia đình này
có công việc làm để ổn định đời sống; trường hợp gặp khó khăn mà không thể tự
giải quyết được, thì chính quyền và các đoàn thể ở địa phương phải vận động
nhân dân giúp đỡ; nếu còn có khó khăn thì Nhà nước trợ cấp thêm.

Trong tình hình hiện nay, tuy công lao, thành
tích của từng người, từng gia đình đối với cách mạng có khác nhau, nhưng sự
giúp đỡ vật chất của Nhà nước chưa giải quyết được đầy đủ, đều khắp cho tất cả
mọi người, mọi gia đình, mà chỉ giải quyết đối với những người, những gia đình
gặp khó khăn,

Từ nay, các chế độ đãi ngộ đối với những người
và gia đình có công với cách mạng được thi hành thống nhất trong cả nước như
sau:

1. Chế độ đối với người có công với cách mạng
khi ốm đau

Người có công với cách mạng khi ốm đau được khám
bệnh tại cơ sở y tế nơi cư trú, được cấp thuốc tùy theo bệnh lý và tùy theo khả
năng về thuốc của phòng khám.

Nếu được vào điều trị ở bệnh viện, thì được miễn
trả tiền thuốc và tiền ăn, và được hưởng thuốc men và bồn dưỡng (nếu có) như đối
với công nhân viên chức Nhà nước (loại cán bộ sơ cấp).

Khi đến khám bệnh từ bệnh viện huyện trở lên (trừ
trường hợp cấp cứu) ngoài giấy giới thiệu của cơ quan y tế cấp dưới, người có
công với cách mạng phải mang theo giấy chứng nhận là người có công với cách mạng
do Ủy ban nhân dân từ cấp huyện trở lên cấp (theo mẫu giấy chứng nhận đính
kèm).

 2. Chế độ lương thực

Theo quyết định Hội đồng Chính phủ những người
có công với cách mạng đã già yếu và không còn sức lao động được cơ quan lương
thực ở địa phương bán theo giá cung cấp mỗi tháng 12kg lương thực quy ra gạo,
hoặc nơi nào đó điều kiện thì do hợp tác xã nông nghiệp phân phối theo giá thu
mua của Nhà nước.

3. Chế độ trợ cấp

a) Đối với những người già yếu, không còn sức
lao động và không có nơi nương tựa:

– Những người có công với cách mạng đã già yếu
và không còn sức lao động (nam từ 60 tuổi, nữ từ 55 tuổi trở lên, hoặc tuy chưa
đến tuổi đó, nhưng do ốm đau, bệnh tật mà bị mất hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn sức
lao động, như bị mù 2 mắt, bại liệt…) không có nơi nương tựa (không có người
thân thuộc có trách nhiệm trực tiếp săn sóc) thì được thu nhận vào nhà nuôi dưỡng
của Nhà nước. Tiêu chuẩn chế độ đối với người có công với cách mạng ở nhà nuôi
dưỡng và thủ tục thu nhận vào nhà nuôi dưỡng theo đúng như tiêu chuẩn, chế độ
và thủ tục đối với bố mẹ liệt sĩ ở nhà nuôi dưỡng quy định tại thông tư số
05-TBXH ngày 10-05-1976 của Bộ Thương binh và xã hội. Khi vào nhà nuôi dưỡng của
Nhà nước, người có công với cách mạng được trợ cấp thêm để cộng với chế độ trợ
cấp hàng tháng đang hưởng (nếu có) có sinh hoạt phí hàng tháng là 25 đồng.

Các Ty, Sở thương binh và xã hội cần nắm và báo
cáo sớm về Bộ số lượng người có công với cách mạng cần nhận vào nhà nuôi dưỡng
để Bộ kế hoạch tổ chức nhà nuôi dưỡng.

– Trường hợp vào nhà nuôi dưỡng của Nhà nước,
thì được trợ cấp mỗi người mỗi tháng 15 đồng nếu sống ở nông thôn (bao gồm cả
thị trấn, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và ngọai thành các thành phố trực thuộc
trung ương), hoặc 18 đồng nếu sống ở nội thành các thành phố trực thuộc trung
ương. Người được hưởng chế độ trợ cấp này, đồng thời lại là đối tượng được hưởng
một chế độ trợ cấp hàng khác của Nhà nước (như trợ cấp tiền tuất, trợ cấp mất sức
lao động…), thì chỉ được hưởng một chế độ trợ cấp nào cao hơn.

Các Ty, Sở thương binh và xã hội xét và ra quyết
định trợ cấp, cấp sổ trợ cấp để người có công với cách mạng được lĩnh trợ cấp
hàng quý kể từ ngày ký quyết định trợ cấp.

Ngoài trợ cấp của Nhà nước chính quyền và các
đoàn thể địa phương cần chăm sóc, giúp đỡ thêm để những người này có được mức sống
bình thường như nhân dân ở địa phương.

b) Đối với những người và gia đình gặp khó khăn
về đời sống

Theo đề nghị của Hội đồng Chính phủ việc trợ cấp
khó khăn cho những người và gia đình có công với cách mạng như sau :

Những trường hợp mà đời sống có khó khăn được
xét trợ cấp là :

– Vì già yếu (nam từ 60 tuổi, nữ từ 55 tuổi trở
lên);

– Vì bệnh tật, mất sức lao động (chưa đến tuổi
già sức yếu nói trên nhưng do ốm đau, bệnh tật mà bị mất hoàn toàn hoặc gần
hoàn toàn sức lao động).

– Vị tai nạn bất thường (bị cháy nhà, bão lụt, bị
ốm đau đột xuất phải thuốc men tốn kém…)

Việc xét trợ cấp phải căn cứ vào tình hình khó
khăn thực tế và vào công lao, thành tích đối với cách mạng trước đây của từng
người, từng gia đình. Nếu cùng khó khăn như nhau, thì người có công lao nhiều
hơn được trợ cấp cao hơn.

Số tiền trợ cấp mỗi lần cho mỗi người hoặc mỗi
gia đình như sau :

– Người có công với cách mạng được trợ cấp mỗi lần
không quá 60 đồng;

– Gia đình có công với cách mạng được trợ cấp mỗi
lần không quá 150 đồng;

– Mỗi người hoặc mỗi gia đình được trợ cấp trong
một năm không quá 2 lần.

Việc xét trợ cấp phải được tiến hành một cách
chính xác kịp thời, đảm bảo đúng đối tượng, đúng tiêu chuẩn, không bỏ sót và
không tràn lan, và giữ được sự đoàn kết trong những người, những gia đình có
công với cách mạng và trong nhân dân địa phương.

Các phòng thương binh và xã hội huyện, thị xã phải
nắm chắc hoàn cảnh cụ thể của từng người, từng gia đình, có nhận xét và đề nghị
để Ty, Sở Thương binh và xã hội tỉnh, thành phố xét và quyết định trợ cấp.

4. Chế độ đối với người có công với cách mạng
khi chết.

Khi người có công với cách mạng chết, chính quyền
cơ sở và các đoàn thể địa phương cần đến viếng (có vòng hoa, hương nến), đưa
tang và giúp đỡ gia đình tổ chức chu đáo việc mai táng.

Nếu gia đình có khó khăn thì tùy theo tình hình
khó khăn ít hay nhiều, được trợ cấp từ 50 đồng đến 150 đồng.

5. Đi đôi với việc đãi ngộ về vật chất như trên,
các địa phương cần quan tâm về mặt động viên tinh thần đối với những người, những
gia đình có công với cách mạng và chú ý săn sóc việc học hành của các con những
người có công với cách mạng.

Tùy tình hình cụ thể, các địa phương nên có những
hình thức động viên thích hợp (như họp mặt những người có công, mời tham dự các
buổi lễ, thăm hỏi vào các ngày lễ, ngày Tết…) nhằm nhắc nhở công lao, thành
tích và động viên những người và gia đình có công với cách mạng tiếp tục phát
huy truyền thống cách mạng của bản thân và gia đình.

Hàng năm, vào dịp lễ Quốc khánh (2/9), các tổ chức
Đảng và chính quyền địa phương tổ chức thăm hỏi và tặng quà (kẹo, bánh, chè,
thuốc lá…) những người và gia đình có công với cách mạng.

Việc thăm hỏi những người và gia đình có công với
cách mạng do Ủy ban nhân dân cấp huyện, thị xã phụ trách. Cấp tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương chỉ trực tiếp thăm hỏi một số trường hợp tiêu biểu.

6. Số tiền được ấn định cho chế độ đãi ngộ
đối với những người và gia đình có công với cách mạng nói trên là tính theo đơn
vị tiền Ngân hàng Nhà nước Việt nam (tiền miền Bắc). Kinh phí này do ngân sách
địa phương đài thọ.

Các Ty, Sở thương binh và xã hội phải nắm chắc số
lượng và tình hình những người và gia đình có công với cách mạng, lập dự trù và
báo cáo với Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố xét duyệt để có đủ kinh phí cho việc
thực hiện các chế độ đãi ngộ nói trên.

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 

1. Đối với những người và gia đình có công với
cách mạng chưa được khen thưởng.

Theo quyết định của Hội đồng Chính phủ những người
và gia đình, có công với cách mạng trong cả nước chưa được khen thưởng, nhưng
đã có nhiều thành tích và công lao rõ rệt được nhân dân và chính quyền địa
phương xác nhận thì cũng được xét để hưởng các chế độ đãi ngộ.

Đây là một việc khó, vì phải xét thực hiện chế độ
đãi ngộ trước khi tiến hành việc khen thưởng. Do đó, cần phải tiến hành hết sức
chu đáo, chính xác, tránh giải quyết tràn lan, không đúng đối tượng, không đúng
tiêu chuẩn, gây nhiều khó khăn về sau. Vì vậy, trong khi chưa tiến hành việc
khen thưởng, các địa phương tạm thời chỉ xét giải quyết chế độ đãi ngộ đối với
những trường hợp thật tiêu biểu, đã có nhiều thành tích và công lao rõ rệt, mà
rồi đây, khi tiến hành việc khen thưởng, chắc chắn sẽ là đối tượng được hưởng
chế độ đãi ngộ nói ở phần II của thông tư này.

Để được xét hưởng chế độ đãi ngộ, người và gia
đình có công với cách mạng chưa được khen thưởng phải có hồ sơ đầy đủ về công
lao, thành tích giúp đỡ cách mạng (có xác nhận của cán bộ cũ được giúp đỡ, hoặc
nếu cán bộ đó đã chết đã chuyển đi xa tìm không gặp…thì do Đảng ủy và chính quyền
cơ sở dựa vào ý kiến của nhân dân để xác nhận) về thái độ chính trị, về hoàn cảnh
cụ thể của bản thân và gia đình, được chính quyền cơ sở xác nhận.

Các Ty, Sở thương binh và xã hội phải cùng các
cơ quan phụ trách khen thưởng ở địa phương xem xét kỹ từng trường hợp và trình Ủy
ban nhân dân tỉnh, thành phố xét duyện, rồi mới được thực hiện chế độ đãi ngộ.

2. Hội đồng Chính phủ đã quyết định giao cho Bộ
thương binh và Xã hội có nhiệm vụ thống nhất quản lý việc thực hiện các chế độ
đãi ngộ đối với những người và gia đình có công với cách mạng, và giao cho Viện
huân chương có trách nhiệm nghiên cứu trình Chính phủ ban hành những qui định về
tiêu chuẩn về việc khen thưởng đối với những người và gia đình có công với cách
mạng trong phạm vi cả nước.

Để thực hiện tốt các chế độ đãi ngộ đối với những
người và gia đình có công với cách mạng đề nghị các địa phương chú ý mấy điểm
sau đây:

– Có sự phối hợp thật chặt chẽ giữa 2 cơ quan
thương binh và xã hội và cơ quan phụ trách khen thưởng ở địa phương để thực hiệt
tốt toàn bộ chính sách đối với những người và gia đình có công với cách mạng (từ
việc khen thưởng đến việc thực hiện chế độ đãi ngộ).

 – Từ nay, hệ thống tổ chức ngành thương
binh và xã hội ở địa phương (từ tỉnh, thành phố đến huyện, thị xã và xã) có
trách nhiệm quản lý việc thực hiện các chế độ đãi ngộ đối với những người và
gia đình có công với cách mạng. Do đó, các Ty, Sở thương binh và xã hội phải
nhanh chóng bàn với cơ quan phụ trách khen thưởng hoặc cơ quan đang được phân
công quản lý những người và gia đình có công với cách mạng ở địa phương, để nhận
bàn giao sớm công việc này (bàn giao về tình hình số lượng và về hồ sơ, tài liệu
cụ thể); bố trí đủ cán bộ ở Ty, Sở, ở phòng huyện, thị xã chuyên trách công tác
này và giao nhiệm vụ cho các ban thương binh và xã hội ở xã về công tác này.

Đề nghị cấp ủy và Ủy ban nhân dân các cấp quan
tâm chỉ đạo công tác này, phổ biến rộng rãi đến cán bộ, nhân dân và những người
có công với cách mạng, làm cho mọi người nắm được mục đích, ý nghĩa, nội dung của
chính sách và thấy rõ trách nhiệm của mình để tích cực góp phần thực hiện chính
sách.

Các Ty, Sở thương binh và xã hội cần phối hợp chặt
chẽ với cơ quan có liên quan ở địa phương (ban tổ chức của cấp ủy Đảng, cơ quan
phụ trách khen thưởng, các cơ quan tài chính, lương thực, y tế, thương nghiệp…)
để có kế hoạch và biện pháp nhanh chóng triển khai việc tổ chức thực hiện các
chế độ đãi ngộ trên đây.

Trong quá trình thực hiện, nếu có gì khó khăn vướng
mắc, đề nghị các Ủy ban nhân dân, các Ty, Sở thương binh và Xã hội kịp thời phản
ánh cho Bộ Thương binh và Xã hội nghiên cứu giải quyết.

 

K.T. BỘ TRƯỞNG
BỘ THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
THỨ TRƯỞNG


Huỳnh Đắc Hương

 

SOẠN HỢP ĐỒNG, ĐƠN, VĂN BẢN THEO YÊU CẦU CHỈ 500.000đ

--- Gọi ngay 1900.0191 ---

(Tư vấn Miễn phí - Hỗ trợ 24/7)

Công ty Luật LVN - Địa chỉ: Số 16B Nguyễn Thái Học, Yết Kiêu, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam

Gmail: luatlvn@gmail.com

HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********

Số: 280-CP

Hà Nội, ngày 12
tháng 10 năm 1977 

 

NGHỊ QUYẾT

VỀ
PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT, ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU VÌ SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA

I.

Đại hội lần thứ IV của Đảng Cộng Sản Việt
Nam đã quyết định đường lối chung về cách mạng xã hội chủ nghĩa và đường lối
xây dựng kinh tế trong giai đoạn mới, mà công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là
nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ. Sau khi đã vạch rõ nhiệm vụ của kế
hoạch 5 năm 1976-1980 là “tập trung cao độ lực lượng của cả nước, của các
ngành, các cấp, tạo ra một bước phát triển vượt bậc về nông nghiệp; ra sức đẩy
mạnh lâm nghiệp, ngư nghiệp, phát triển công nghiệp nhẹ và công nghiệp thực phẩm…,
nghị quyết Đại hội đã đề ra nhiệm vụ phải tăng nhanh nguồn hàng xuất khẩu, trước
hết là sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp nhẹ; mở rộng quan hệ kinh tế với nước
ngoài”.

Hội nghị lần thứ hai của Ban chấp hành trung ương Đảng bàn về
nông nghiệp cũng quy định rõ ba nhiệm vụ của nông nghiệp là:

– Bảo đảm lương thực, thực phẩm cho xã hội;

– Bảo đảm nguyên liệu nông sản cho công nghiệp;

– Tạo nguồn hàng xuất khẩu.

Những nhiệm vụ phát triển kinh tế to lớn và cấp bách nói trên
đặt ra yêu cầu phân bố lại lao động trong cả nước, tổ chức lại sản xuất, xây dựng
cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, trang bị lại cho các ngành
kinh tế nhằm phấn đấu hoàn thành về cơ bản quá trình đưa nền kinh tế nước ta từ
sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa trong khoảng hai mươi năm. Từ
đó, nhu cầu nhập khẩu thiết bị, vật tư, nhiên liệu, nguyên liệu rất lớn, ngay
trong kế hoạch 5 năm 1976-1980 và còn tăng hơn nữa trong các kế hoạch sau, khi
chúng ta đi vào xây dựng nền kinh tế quốc dân trên quy mô lớn. Mặc dù được sự
giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, các nước bạn và các tổ chức quốc
tế, công cuộc xây dựng lại đất nước và thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ
nghĩa nước nhà chỉ có thể giải quyết bằng con đường dựa vào sức mình là chính,
ra sức phát triển sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu.

Cho đến nay xuất khẩu của nước ta còn quá nhỏ. Kim ngạch xuất
khẩu chỉ mới bằng 30% kim ngạch nhập khẩu. Hàng xuất khẩu rất manh mún, số lượng
từng loại rất ít, phẩm chất nói chung kém, nguồn hàng không ổn định. Ngoài than
đá, ta chưa tạo được mặt hàng nào có số lượng lớn và giá trị cao xứng đáng là
hàng chủ lực đáp ứng yêu cầu khách hàng trên thị trường thế giới. Cơ cấu hàng
xuất khẩu của ta chưa phản ánh đúng tiềm năng kinh tế của đất nước và cũng chưa
phù hợp với yêu cầu và xu hướng phát triển của thị trường thế giới.

II.

Đứng trước tình hình và nhiệm vụ mới,
công tác xuất khẩu của ta phải được chuyển biến nhanh chóng và rất cơ bản.

Nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã vạch
rõ: “Tăng nhanh xuất khẩu bằng cách phát huy khả năng lớn của nông nghiệp, lâm
nghiệp nhiệt đới, tận dụng khả năng của công nghiệp nhẹ, tiểu công nghiệp và thủ
công nghiệp; đẩy mạnh khai thác một số hải sản và khoáng sản có trữ lượng khá,
tiến tới xuất khẩu một số mặt hàng công nghiệp nặng”.

Cả nước phải phấn đấu tăng nhanh tốc độ xuất khẩu hàng năm nhằm
đáp ứng với mức ngày càng cao yêu cầu của nhập khẩu, nhanh chóng giảm nhập siêu
để sau một thời gian không dài có thể thăng bằng xuất nhập. Trước hết phấn đấu
tích cực để đến năm 1985 tổng trị giá xuất khẩu bảo đảm nhập khẩu máy lẻ, phụ
tùng, nguyên liệu, nhiên liệu và những hàng tiêu dùng thiết yếu.

Để đạt được mục tiêu chung đó, phải rấp rút quy hoạch và có kế
hoạch phát triển sản xuất tập trung, có khối lượng lớn, tạo nguồn hàng xuất khẩu
phù hợp với xu hướng phát triển của thị trường thế giới. Trong điều kiện hiện
nay phải ra sức phát huy khả năng sẵn có của mọi ngành kinh tế đã và đang tham
gia xuất khẩu, mở rộng và cải tiến sản xuất, tăng mạnh thêm số lượng, nâng cao
chất lượng hàng hóa xuất khẩu; đồng thời phải tích cực đầu tư xây dựng cơ sở sản
xuất mới theo quy mô lớn và kỹ thuật hiện đại tạo nên những mặt hàng xuất khẩu
chủ lực có giá trị cao, có vị trí xứng đáng trên thị trường quốc tế; chú trọng
đẩy mạnh các loại hàng xuất khẩu quan trọng sau đây:

1. Về nông sản:

Với 50 vạn hécta đã được trung ương Đảng quyết định dành cho
xuất khẩu trong kế hoạch này, Bộ Nông nghiệp và các Ủy ban nhân dân tỉnh, thành
phố phải nhanh chóng quy vùng sản xuất, kết hợp việc đẩy mạnh sản xuất các loại
nông sản ngắn ngày với việc gấp rút bố trí kế hoạch sản xuất các nông sản dài
ngày, tạo nên những vùng chuyên canh sản xuất lớn về nhiều loại sản phẩm, mỗi
loại có hàng vạn đến hàng chục vạn tấn với phẩm chất đồng đều, đạt tiêu chuẩn của
thị trường thế giới. Trước hết đi đôi với việc bảo đảm lương thực cho nhu cầu
xã hội, phải ra sức phát triển: lạc, vừng, đậu tương và các loại đậu khác, dứa,
chuối, đay, cói, tơ tằm, thầu dầu, thuốc lá, các cây tinh dầu là những loại cây
khắp nơi nhân dân đã quen trồng. Đồng thời dựa trên những nông trường sẵn có của
trung ương và địa phương cũng như nông trường của quân đội, những vùng đất đỏ
đã được điều tra và quy hoạch, những vùng kinh tế mới… xúc tiến ngay việc mở rộng
và phát triển các diện tích trồng các cây cam, bưởi, chanh, chè, cà-phê,
ca-cao, hồ tiêu, cao-su, trẩu, sở, lai, cọ dầu…Cần có kế hoạch mở rộng diện
tích gieo trồng vụ đông xuân và xem xét những vùng có đất đai thích hợp để trồng
các loại rau xuất khẩu, tập trung vào mấy loại như cải bắp hoa, cà chua, dưa
chuột, hành tây, tỏi; chú ý phát triển các loại nấm và mộc nhĩ là những mặt
hàng dễ sản xuất và có giá trị cao. Cần khoanh vùng phát triển gia súc xuất khẩu
(lợn, bò và gia cầm), tích cực cải tạo giống, giải quyết vấn đề chuồng trại, thức
ăn và biện pháp miễn dịch.

Ngành nông nghiệp cần chủ động chuẩn bị để trên cơ sở những kết
quả đã đạt được trong kế hoạch 5 năm 1976-1980 này, phải cố gắng trong một thời
gian ngắn tiếp theo, đưa diện tích các loại cây trồng để xuất khẩu lên 1 triệu
hécta; trong bước thứ hai này chú ý nhiều vào cây dài ngày và những cây có giá
trị kinh tế cao.

Phấn đấu theo phương hướng trên, toàn bộ nông sản xuất khẩu đến
năm 1980-1981 phải bảo đảm được yêu cầu nhập phân bón, xăng dầu, thuốc trừ sâu
và phụ tùng cho các máy nông nghiệp và đến năm 1985 phải bảo đảm cân đối được
nhu cầu nhập khẩu cho toàn bộ nông nghiệp.

2. Về lâm sản.

Đi đôi với việc bảo đảm nhu cầu trong nước, phải tổ chức khai
thác và chế biến tốt các loại lâm sản có khối lượng xuất khẩu lớn, mặt khác dựa
trên phân vùng nông nghiệp và lâm nghiệp, phải bảo vệ rừng và xúc tiến trồng
các loại cây có hiệu quả kinh tế cao như cây làm giấy và bột sợi… Phải sớm có kế
hoạch khai thác hợp lý những dải rừng có nhiều gỗ quý ở miền Nam như lát hoa,
thông trắng, gỗ dầu, gỗ có màu sắc đặc biệt, những lâm sản nhiệt đới như quế, hồi,
sa nhân, thảo quả, ba kích, cánh kiến trắng và đỏ; phải phát triển trồng và
khai thác các cây dược liệu phong phú của ta, tạo ra một nguồn hàng xuất khẩu
có giá trị lớn. Phải xây dựng công nghiệp chế biến gỗ, gỗ xẻ, gỗ dán, gỗ lạng,
gỗ ép, ván sàn thành phẩm, đồ gỗ gia dụng để tăng giá trị xuất khẩu của gỗ; phải
phát triển công nghiệp chưng cất các loại tinh dầu, dầu thông, dầu tùng tiêu,
chất chát thuộc da; tận dụng khả năng mây, tre, trúc, nứa, lá cọ, lá buông rất
lớn của ta để làm hàng xuất khẩu. Phải tích cực phấn đấu để toàn bộ lâm sản xuất
khẩu đến cuối kế hoạch này (1976-1980) đầu kế hoạch sau chẳng những bảo đảm được
toàn bộ yêu cầu nhập khẩu của ngành lâm nghiệp mà còn có thêm nguồn tích lũy
ngoại tệ để góp phần trang bị cho các ngành kinh tế khác.

3. Về hải sản

Cùng với việc phát triển nhanh các cơ sở đánh bắt, bảo quản và
chế biến hải sản, cần phải tổ chức nuôi trên quy mô lớn và theo phương pháp
tiên tiến các loại tôm, cá nước lợ, ngọc trai, đồi mồi… Với hơn 3000 cây số bờ
biển và với những điều kiện thiên nhiên vô cùng thuận lợi, ngành hải sản phải sớm
trở thành một ngành sản xuất những loại hàng xuất khẩu chủ lực, chẳng những bảo
đảm nhập khẩu đủ các phương tiện đánh bắt, bảo quản, chế biến và nghiên cứu
khoa học để hiện đại hóa ngành mình, mà còn phải tăng tích lũy ngoại tệ của Nhà
nước để phát triển nền kinh tế quốc dân.

4. Về sản phẩm công nghiệp nhẹ và công
nghiệp thực phẩm.

Cần tận dụng và nâng cao năng lực sản xuất của các cơ sở sẵn
có để đẩy mạnh việc gia công xuất khẩu, đồng thời gấp rút xây dựng thêm một số
cơ sở mới, hiện đại, có khả năng sản xuất những mặt hàng phẩm chất tốt, đạt tiêu
chuẩn kỹ thuật cao, giá thành hạ, có sức cạnh tranh để giữ vững thị trường; chú
trọng ngành may mặc; giày dép, cao su, đồ dùng thể dục thể thao, lắp ráp dụng cụ
và thiết bị điện tử.

Về công nghiệp thực phẩm cần phát triển rau quả đông lạnh,
công nghiệp nước quả, đồ hộp xuất khẩu (dứa, cam, bưởi, đu đủ, cà chua, dưa chuột,
nấm, thịt gà, thỏ…).

Tích cực phấn đấu để hàng công nghiệp nhẹ và công nghiệp thực
phẩm xuất khẩu đến năm 1980-1981 đủ bảo đảm nhập nguyên liệu và phụ tùng cho
ngành mình, và đến năm 1985 tích lũy ngoại tệ có vốn dùng để từng bước đổi mới
trang bị.

5. Về sản phẩm tiểu công nghiệp và thủ
công nghiệp.

Phát huy khả năng lao động dồi dào và bàn tay khéo léo của
nhân dân: cần khôi phục các nghề truyền thống dựa vào nguyên liệu trong nước là
chủ yếu, đồng thời phát triển có tính toán hiệu quả kinh tế những nghề sử dụng
nguyên liệu nhập khẩu, chú ý cả các mặt hàng thông thường và mỹ nghệ phẩm: mây
tre đan, mành trúc, thảm đay, thảm cói, thảm ngô, thảm len, hàng thêu, đồ khảm,
đồ chạm, gốm, sứ, sơn mài, đồ sừng, ngà voi, đồi mồi, đồ bạc v.v…

Nhà nước giúp đỡ các cơ sở sản xuất tiểu công nghiệp và thủ
công nghiệp tổ chức lại sản xuất, chú ý nâng cao trình độ kỹ thuật và mỹ thuật,
nắm vững yêu cầu của thị trường và nhạy cảm với thị hiếu của người mua để ngày
càng tăng được khối lượng và mặt hàng xuất khẩu, tạo ra nhiều việc làm, tăng
thu nhập quốc dân và góp phần tăng tích lũy cho Nhà nước.

6. Về sản phẩm công nghiệp nặng

Trong những năm tới, cần khẩn trương điều tra, khảo sát và tập
trung vốn đầu tư khai thác một số tài nguyên có trữ lượng khá và giá trị cao, vừa
đáp ứng nhu cầu trong nước, vừa tạo ra nguồn hàng xuất khẩu có sức hấp dẫn thị
trường nước ngoài, làm đòn bẩy để nhập khẩu những thiết bị hiện đại và nguyên
liệu khó nhập nhằm xây dựng những ngành công nghiệp then chốt của ta.

Phải phát triển nhanh các cơ sở sản xuất than, dầu mỏ,
a-luy-min, chì, kẽm, apatit, phân lân kép, axit phốt – phô rích.

Sản phẩm cơ khí là những mặt hàng đòi hỏi trình độ kỹ thuật
cao mà công nghiệp của ta còn đang ở bước đầu xây dựng, nhưng cũng phải cố gắng
đi vào sản xuất để xuất khẩu, trước hết là xuất khẩu những sản phẩm cơ khí tiêu
dùng và phụ kiện, linh kiện máy rồi dần dần tiến lên xuất khẩu thiết bị.

Trên đây là những phương hướng phát triển sản xuất các mặt
hàng xuất khẩu. Những phương hướng đó phải được quán triệt trong kế hoạch
dài hạn phát triển nền kinh tế quốc dân cũng như trong kế hoạch hàng năm,
đồng
thời phải được quán triệt trong quy hoạch cũng như trong kế hoạch sản xuất của
mỗi ngành, mỗi địa phương, mỗi đơn vị cơ sở, kể cả trong quy hoạch và kế hoạch
của các lực lượng bộ đội làm kinh tế.

III.

Để thực hiện phương hướng và mục tiêu xuất
khẩu nói trên, Hội đồng Chính phủ đề ra một số chủ trương, chính sách và biện
pháp cụ thể sau đây:

1. Chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở sản
xuất tạo nguồn hàng xuất khẩu

Sản phẩm xuất khẩu là một bộ phận của tổng sản phẩm xã hội,
yêu cầu về phẩm chất lại cao hơn sản phẩm tiêu dùng trong nước; vì vậy đầu tư
xây dựng cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu chẳng những phải có một vị trí thích
đáng trong chính sách và kế hoạch đầu tư phát triển kinh tế quốc dân của Nhà nước
và của từng ngành, từng địa phương, mà còn phải chú ý đầy đủ đến đặc thù của
hàng hóa xuất khẩu.

Trong điều kiện hiện nay, để tăng nhanh khối lượng và nâng cao
chất lượng hàng xuất khẩu nhằm tranh thủ thị trường, một mặt phải đầu tư vào
các cơ sở sản xuất sẵn có bằng cách hoàn chỉnh dây chuyền sản xuất, hoặc đổi mới
thiết bị ở các khâu quyết định công suất và chất lượng sản phẩm; mặt khác phải
có kế hoạch đầu tư xây dựng các cơ sở mới, trang bị những thiết bị và kỹ thuật
hiện đại nhất.

Cùng với việc đầu tư trực tiếp vào sản xuất, phải đầu tư vào
các khâu bao bì đóng gói, bảo quản, bốc xếp, vận tải… để bảo đảm cả quá trình sản
xuất và xuất khẩu.

Khi xét duyệt kế hoạch đầu tư, nên chú trọng một cách thích
đáng và tạo điều kiện thuận lợi nhất đối với các công trình sẽ sản xuất hàng xuất
khẩu hoặc trực tiếp phục vụ đẩy mạnh xuất khẩu.

Ngân hàng Nhà nước cần mở rộng tín dụng với điều kiện thuận lợi
kể cả cho vay ngoại tệ, để khuyến khích các xí nghiệp, các nông trường, các hợp
tác xã phát triển sản xuất hàng xuất khẩu.

– Trong sản xuất nông sản xuất khẩu trên cơ sở hướng đầu tư
chung của nông nghiệp Nhà nước sẽ đặc biệt chú trọng đầu tư vào khâu tổ chức sản
xuất giống cây và con; bảo đảm thủy lợi và cung cấp phân bón cho cây trồng; sản
xuất và cung ứng thức ăn tổng hợp tiêu chuẩn cho gia súc.

– Trong sản xuất thủy sản xuất khẩu, Nhà nước cần đầu tư không
những để trang bị các phương tiện đánh bắt mà còn phải chú ý xây dựng các cơ sở
hậu cần, các cơ sở chế biến và bảo quản. Về việc nuôi tôm theo phương pháp hiện
đại, có thể nghiên cứu vấn đề hợp tác với nước ngoài để đạt hiệu quả cao.

– Trong sản xuất lâm sản xuất khẩu, Nhà nước chú trọng đầu tư
vào khâu vận tải và chế biến, trước mắt là chế biến gỗ dán, gỗ ép, gỗ lạng, ván
sàn thành phẩm, đồ gỗ xuất khẩu.

– Trong sản xuất tiểu thủ công xuất khẩu, chú trọng giúp đỡ
các cơ sở trong việc giải quyết khâu khai thác và sơ chế nguyên liệu, cung ứng
vật tư kỹ thuật, xây dựng và mở rộng sản xuất, trang bị kỹ thuật, mở lớp dạy
nghề, đào tạo cán bộ quản lý,…

– Trong sản xuất hàng tiêu dùng và thực phẩm xuất khẩu chú trọng
đầu tư trang bị kỹ thuật hiện đạo và đồng bộ dây chuyền cho các ngành sợi, vải,
may mặc, da, cao su, giày dép, gốm sứ, thủy tinh; cho công nghiệp bao bì; cho
công nghiệp đông lạnh, nước quả, đồ hộp.

– Trong việc khai thác tài nguyên để xuất khẩu, cần tranh thủ
thiết bị hiện đại trong vấn đề hợp tác với các nước anh em trên tinh thần quốc
tế xã hội chủ nghĩa hoặc hợp tác với các nước khác trên nguyên tắc bình đẳng,
đôi bên cùng có lợi.

Đi đôi với việc đầu tư để cải tạo và mở rộng các cơ sở sản xuất
sẵn có hoặc để xây dựng những cơ sở sản xuất mới cần phải tăng cường quản lý tốt
các cơ sở đó để tăng nguồn thu ngoại tệ trả nợ nước ngoài và góp phần phát triển
nhanh chóng các ngành kinh tế quốc dân.

2. Phát triển ngành nghề, tạo thêm việc
làm ở nông thôn và thành thị tận dụng mọi lực lượng lao động để làm hàng xuất
khẩu

Ưu thế lớn nhất của ta là có nguồn lao động dồi dào. Cần có kế
hoạch và biện pháp sử dụng mọi lực lượng lao động vào việc phát triển hàng xuất
khẩu, và qua việc tổ chức sản xuất hàng xuất khẩu mà thúc đẩy sự phân công lao
động xã hội và nâng cao kỹ năng lao động.

– Về sử dụng lao động ở nông thôn :

Qua việc quy hoạch các vùng chuyên canh hay mở rộng tăng vụ sản
xuất hàng xuất khẩu, cần giao việc phân loại và sơ chế nông sản (kể cả đóng gói
bao bì) cho hợp tác xã, hướng dẫn các cơ sở làm tốt các công việc này; cần quy
hoạch hợp lý việc phát triển các nghề thủ công dựa trên nguồn nguyên liệu nông
sản (thảm đay, cói, xơ dừa, hàng mây tre, song, lá, buông…) nhằm thực hiện phân
công lao động tại chỗ. Đối với các vùng kinh tế mới, kế hoạch điều động lao động
tới cần được gắn liền với việc xác định ngay phương hướng sản xuất và tăng cường
bộ khung lãnh đạo. Đi đôi với những chủ trương và biện pháp nói trên phải bảo đảm
cung cấp lương thực theo đúng chính sách của Nhà nước đã quy định đối với từng
vùng, từng đối tượng. Giải quyết tốt vấn đề nói trên là nhằm thúc đẩy một phong
trào sản xuất hàng xuất khẩu mạnh mẽ trong nông nghiệp và thủ công nghiệp ở
nông thôn.

– Về sử dụng lao động ở thành thị:

Phải phát triển những ngành nghề thích hợp, tận dụng lao động
có kỹ thuật, có trình độ văn hóa để sản xuất những mặt hàng như đồ điện, sản phẩm
cơ khí, lắp ráp điện tử, đồ da, mạy mặc, thảm len, hàng thêu, sơn mài, đồi mồi,
gốm sứ. Phải đặc biệt chú ý tổ chức dạy nghề, đào tạo lớp thợ trẻ, đồng thời bồi
dưỡng kiến thức và kỹ năng cho thợ cũ nhằm cải tiến kỹ thuật, nâng cao phẩm chất
hàng hóa. Nhà nước sẽ đài thọ cho các lớp đào tạo và bồi dưỡng này; có chính
sách ưu đãi đối với nghệ nhân, sử dụng họ vào việc truyền lại kỹ năng cho thợ mới
và đào luyện thợ giỏi. Các ngành công nghiệp, các xí nghiệp quốc doanh cần hướng
dẫn kỹ thuật cho các hợp tác xã tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp. Liên hiệp
hợp tác xã, các trường đại học, viện nghiên cứu cần đi sát các cơ sở để giúp cải
tiến quản lý, sáng tác đề tài, tạo mẫu hàng mới v.v…

3. Chính sách tiêu dùng trong nước và xuất
khẩu

Đường lối phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước ta là nhằm
không ngừng nâng cao đời sống nhân dân. Nhưng trong thời kỳ thực hiện công nghiệp
hóa xã hội chủ nghĩa nước nhà, khi mà sản phẩm xã hội làm ra chưa dồi dào, lại
phải tập trung sức xây dựng công nghiệp, thì thường có mâu thuẫn giữa như cầu
trong nước và nhu cầu xuất khẩu. Cần giải quyết vấn đề này một cách đúng đắn.

Chính sách tiêu dùng trong nước và xuất khẩu trước hết phải được
thể hiện trong kế hoạch Nhà nước theo tinh thần ưu tiên dành cho nhu cầu
trong nước những hàng thiết yếu
đối với sản xuất và đời sống nhân dân
(lương thực, thịt lợn, cá, đường, vải, giấy, thuốc chữa bệnh, hàng tiêu dùng
thông thường), đồng thời tiết kiệm tiêu dùng những loại hàng có giá trị
trên thị trường thế giới mà đời sống không đòi hỏi cấp bách (lạc, đậu, chè,
cà-phê, tôm, mực, thịt bò, nước quả, đồ hộp, và các hàng công nghiệp phẩm chất
cao…) để xuất khẩu.

Cần phổ biến rộng rãi chính sách nói trên để cán bộ và nhân
dân có ý thức quán triệt trong đời sống hàng ngày. Trường hợp gặp mâu thuẫn giữa
tiêu dùng trong nước và xuất khẩu cần xem xét cụ thể để giải quyết theo tinh thần
trong nước cố gắng chịu đựng khó khăn để bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh những
cam kết với nước ngoài và giữ tín nhiệm quốc tế.

4. Chính sách giá thu mua hàng xuất khẩu

Giá thu mua hàng xuất khẩu thuộc hệ thống giá cả chung trong
nước, do đó phải theo chính sách và nguyên tắc quản lý giá cả chung của Nhà nước.
Các sản phẩm cùng tiêu chuẩn và phẩm chất như nhau thì giá ngang nhau. Hàng xuất
khẩu thường đòi hỏi tiêu chuẩn và phẩm chất cao hơn, hình dáng, mẫu mã đẹp hơn,
bao bì đóng gói kỹ hơn nên khi định giá cần có chênh lệch hợp lý để khuyến
khích sản xuất. Đối với những hàng mới sản xuất lần đầu để xuất khẩu mà giá
thành cao hơn giá bán thì Nhà nước có thể trợ giá trong một vài vụ nhất định.
Các ngành phải cải tiến kỹ thuật, nâng cao phẩm chất, hạ giá thành, làm cho
hàng xuất khẩu của ta dần dần tranh thủ được thị trường một cách vững chắc.

Hàng xuất khẩu cũng phải đóng thuế theo các chế độ thuế như
hàng nội địa. Nhưng khi xuất ra nước ngoài thì không đánh thuế xuất khẩu. Các địa
phương không được tự ý đặt ra các khoản thu đối với hàng xuất khẩu để tăng thu
cho ngân sách địa phương.

Nghiêm cấm các hành động của mọi ngành và địa phương tự tiện đẩy
giá thu mua và giá bán lên cao, chỉ cốt mua và bán cho được hàng, không theo những
quy định giá cả chung của Nhà nước, không xét đến tác hại đối với nền kinh tế,
quốc dân. Các cơ quan kinh doanh ngoại thương phải tính toán kỹ hiệu quả kinh tế
trong khi kinh doanh hàng xuất khẩu, phải phấn đấu hạ phí lưu thông cả khâu
trong nước và ngoài nước.

Đầu năm kế hoạch, Bộ Ngoại thương cùng với Bộ Tài chính xem
xét ngân sách đối với hàng xuất khẩu. Trường hợp có mặt hàng lỗ quá đáng thì
không nên xuất khẩu nữa. Trường hợp có mặt hàng phải bù đến 30% trở lên so với
giá thành xuất khẩu, Bộ Ngoại thương phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét
và quyết định.

Các ngành sản xuất và lưu thông phải tiết kiệm triệt để và giảm
bớt các khâu trung gian để hạ giá thành. Ngành giao thông phải phấn đấu hạ giá
cước. Ngành ngoại thương phải nâng cao trình độ nghiệp vụ ở mọi khâu để bảo đảm
cho hàng bán ra nước ngoài không bị mất giá.

Phải hết sức phấn đấu giảm phí lưu thông nhằm khuyến khích sản
xuất và xuất khẩu, đồng thời phải tìm cách nhập với giá có lợi nhất những thiết
bị và phụ tùng nguyên liệu, kịp thời đẩy mạnh sản xuất, nâng cao phẩm chất hàng
hóa nói chung và nhất là hàng xuất khẩu nói riêng để giảm mức bù lỗ thấp nhất
cho Nhà nước.

5. Chính sách thưởng hoàn thành hoặc
hoàn thành vượt mức kế hoạch xuất khẩu.

Cần nghiên cứu sửa đổi hoặc bổ sung Quyết định số 151-CP ngày
01-7-1974 của Hội đồng Chính phủ về thưởng xuất khẩu cho thích hợp với yêu cầu
trong hoàn cảnh mới:

– Thưởng bằng tiền trong nước hoặc bằng hiện vật cho các cơ sở
sản xuất hoàn thành kế hoạch xuất khẩu, kể cả những cơ sở đã tạo ra nguồn
nguyên liệu cho sản xuất để xuất khẩu.

– Cho phép các ngành, các địa phương được sử dụng số ngoại tệ
thu được do thực hiện vượt mức kế hoạch xuất khẩu để nhập ngoài kế hoạch những
thiết bị, vật tư cần thiết nhằm mở rộng cơ sở sản xuất hoặc xây dựng thêm cơ sở
sản xuất theo nghị quyết của Hội nghị Ban chấp hành trung ương lần thứ II.

– Trên nguyên tắc không làm ảnh hưởng đến các mặt hàng sản xuất
theo chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước và phải hoàn thành kế hoạch xuất khẩu, cho phép
Bộ Ngoại thương bàn bạc với các ngành, các địa phương, các xí nghiệp ký kết với
các Tổng công ty xuất nhập khẩu những mặt hàng chưa ghi trong chỉ tiêu kế hoạch
Nhà nước (khi có yêu cầu của thị trường bên ngoài) để tận dụng mọi khả năng tiềm
tàng tăng nguồn hàng xuất khẩu. Bộ Ngoại thương phải hoàn toàn chịu trách nhiệm
về những mặt hàng này và báo cáo cho Thủ tướng Chính phủ và Ủy ban Kế hoạch Nhà
nước biết. Số ngoại tệ thu được cũng dùng vào mục đính như trên.

6. Quỹ ngoại tệ giải quyết những biến động
bất thường trong sản xuất hàng xuất khẩu.

Trong điều kiện kinh tế của ta hiện nay, sản xuất thường gặp
những biến động bất thường do mất cân đối trong nền kinh tế gây ra. Để ứng phó
kịp thời, nhằm bảo đảm thực hiện những hợp đồng đã ký kết với nước người cũng
như để tranh thủ những thị trường mới (hay khách hàng mới) tranh thủ thời cơ có
lợi nhất cần thành lập một quỹ dự trữ ngoại tệ bằng khoảng 5% giá trị xuất khẩu
hàng năm để nhập khẩn cấp những vật tư, thiết bị phụ tùng nhằm đáp ứng yêu cầu
của các ngành và các đơn vị sản xuất hàng xuất khẩu. Quỹ này do Bộ trưởng Bộ
Ngoại thương quản lý và được chi cho những yêu cầu nói trên. Bộ trưởng Bộ Ngoại
thương có trách nhiệm bảo đảm thu lại số ngoại tệ cao hơn số đã chi ra để tăng
thêm nguồn thu ngoại tệ cho Nhà nước.

7. Cải tiến công tác kế hoạch hóa xuất khẩu
cho phù hợp với tình hình kinh tế của ta.

Xuất khẩu là sự trao đổi buôn bán với nước ngoài, dù với Nhà
nước hay tư nhân, cũng là sự cam kết quốc tế phải thực hiện nghiêm túc. Do đó
chỉ tiêu kế hoạch xuất khẩu phải vững chắc và có tính pháp lệnh.

Ủy ban Kế hoạch Nhà nước khi đề ra và tổng hợp kế hoạch xuất
khẩu phải xem xét cân đối mọi mặt cho các ngành, các địa phương, các xí nghiệp:
cân đối giữa chỉ tiêu sản xuất với chỉ tiêu nguyên liệu, vật tư (kể cả nguyên
liệu làm bao bì), chỉ tiêu lao động; cân đối giữa khối lượng hàng xuất khẩu với
phương tiện vận tải, kho tàng, khả năng bốc xếp tại cảng… Phải đề cao tính pháp
lệnh của kế hoạch xuất khẩu (sản xuất và giao hàng cho ngoại thương) và đòi hỏi
các ngành phải nghiêm túc thực hiện; năm trước không làm đủ thì phải chuyển
sang năm sau kiên quyết có kế hoạch phấn đấu bù và bảo đảm thực hiện trong kế
hoạch mới.

Kế hoạch xuất khẩu phải có tính pháp lệnh cao, nhưng đồng thời
cũng phải mềm dẻo, vì khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế của ta còn nhiều,
ngay cả trong các ngành kinh tế quốc doanh cũng chưa được phát huy hết; mặt
khác kế hoạch cũng chưa dự kiến đầy đủ các yêu cầu của thị trường nước ngoài,
nhất là thị trường tư bản, cho nên có loại hàng chỉ nên ghi kim ngạch mà chưa
nên ghi chỉ tiêu cụ thể; ngành ngoại thương sẽ tiếp xúc với thị trường để xác định
cụ thể hoặc bổ sung trong quá trình thực hiện. Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Ngân
hàng Nhà nước và các ngành khác cần tạo điều kiện và giúp ngoại thương trong việc
thực hiện nhiệm vụ này.

8. Cải tiến tổ chức và quan hệ giữa các
ngành, các cấp trong sản xuất tạo nguồn hàng xuất khẩu

Sản xuất tạo ra nguồn hàng xuất khẩu trước hết là trách nhiệm
của các ngành quản lý sản xuất, các địa phương, các cơ sở sản xuất.

Các ngành quản lý sản xuất, các tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương cần có bộ phận chuyên trách giúp nghiên cứu và đôn đốc thực hiện kế
hoạch sản xuất và giao hàng xuất khẩu; phải phân công một đồng chí phụ trách
công tác xuất khẩu.

Ở các tỉnh, thành phố có thể lập một tổ chức kinh doanh hàng
xuất khẩu làm nhiệm vụ thu mua, bao bì, bảo quản và giao nhận hàng xuất khẩu.

Ở cấp huyện, tùy theo nguồn hàng xuất khẩu nhiều hay ít, sản
xuất phân tán hay tập trung mà tổ chức các trạm thu mua, hoạt động thường xuyên
hay theo thời vụ.

Cần chấn chỉnh lại tổ chức thu mua, có sự phân công và phối hợp
chặt chẽ giữa các ngành, bảo đảm mỗi mặt hàng chỉ có một tổ chức thu mua và
phân phối cho các ngành theo kế hoạch Nhà nước, trước hết chọn hàng tốt, đủ
tiêu chuẩn giao xuất khẩu. Phải nghiên cứu cải tiến tổ chức thu mua, nhất là ở
cấp huyện, nơi trực tiếp với hợp tác xã, sao cho việc thu mua một loại hàng và
cung ứng vật tư sản xuất cho loại hàng ấy, đều tập trung vào một tổ chức, thông
qua hợp đồng kinh tế hai chiều để bảo đảm kế hoạch được thực hiện như các chỉ
tiêu đã định.

Đặc biệt cần phân công lại giữa nội thương và ngoại thương
theo nguyên tắc loại hàng chuyên xuất hoặc phần lớn dành để xuất khẩu thì do
ngoại thương trực tiếp thu mua; loại hàng phần lớn dành cho tiêu dùng trong nước
thì do nội thương thu mua, nhưng chọn loại tốt, đủ tiêu chuẩn giao cho xuất khẩu.
Cần giúp đỡ một số tỉnh hoặc thành phố tổ chức và quản lý các cơ sở cung ứng dịch
vụ cho tàu biển và máy bay nước ngoài bảo đảm phát triển xuất khẩu tại chỗ theo
sự hướng dẫn của Bộ Ngoại thương. Cần có kế hoạch phát triển nhanh ngành du lịch
để tăng nguồn thu ngoại tệ; phải nghiên cứu tổ chức và phương thức quản lý của
ngành du lịch nhằm phát huy hiệu quả và ảnh hưởng tốt của hoạt động du lịch.

Ngành ngoại thương phải nghiên cứu sắp xếp tổ chức cho có hiệu
lực, nâng cao trình độ cán bộ ngoại thương về hiểu biết kinh tế, nghiệp vụ, kỹ
thuật, luật pháp, ngoại ngữ. Cán bộ ngoại thương phải nắm vũng đường lối phát
triển kinh tế đối ngoại của Đảng, hiểu biết khả năng và nhu cầu trong nước, hiểu
biết thị trường nước ngoài để mở rộng xuất khẩu và nhập khẩu.

Tùy theo yêu cầu, ngành ngoại thương có thể cử cán bộ trực tiếp
đến các cơ sở sản xuất thuộc các ngành, các địa phương quản lý để hướng dẫn và
đôn đốc việc thực hiện kế hoạch sản xuất và giao hàng xuất khẩu.

Các ngành tổng hợp có quan hệ đến sản xuất và lưu thông phải cải
tiến nghiệp vụ quản lý, soát loại các chế độ, chính sách, phát huy tác dụng tích
cực trong việc phát triển sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu. Đặc biệt ngành giao
thông vận tải phải ra sức phát triển và cải tiến công tác vận tải, giải quyết tốt
việc vận tải trong nước và bốc dỡ ở cảng để phục vụ đắc lực và kịp thời công
tác xuất nhập khẩu của Nhà nước.

9. Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục.

Các ngành, các cấp phải làm cho mọi người, từ cán bộ, công
nhân viên các cơ sở sản xuất, các cơ quan Nhà nước, đến các đoàn thể quần chúng
và các xã viên các hợp tác xã, nhận thức được tính chất và vị trí quan trọng của
xuất khẩu đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, thấy rõ trách nhiệm của
mình trong sản xuất, tiết kiệm tiêu dùng, dành nhiều hàng và hàng tốt để đẩy mạnh
xuất khẩu.

Giáo dục tinh thần tự lực cánh sinh, ý thức tự hào dân tộc cho
nhân dân nói chung, trước hết là cho cán bộ và công nhân trong các ngành sản xuất,
cho xã viên các hợp tác xã nông nghiệp, tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp để
mọi người ra sức phấn đấu làm ra nhiều hàng xuất khẩu có chất lượng tốt, tạo ra
nhiều mặt hàng mới, giao hàng đúng kế hoạch, thi hàng đúng đắn các cam kết với
nước ngoài. Kiên quyết chống các tư tưởng ỷ lại vào nhập khẩu, dễ làm khó bỏ,
làm dối, làm ẩu chỉ vì lợi riêng để ảnh hưởng đến phẩm chất hàng hóa, đến kế hoạch
xuất khẩu, đến sự tín nhiệm ngoại thương trên thị trường thế giới.

Cần kết hợp chương trình tuyên truyền giáo dục của các đoàn thể
với việc tuyên truyền ý thức đối với xuất khẩu. Vận dụng tốt các phương tiện
báo chí, đài phát thanh, vô tuyến truyền hình trong việc tuyên truyền, giáo dục
ý thức đối với xuất khẩu.

Ngành ngoại thương phải biết mở rộng tuyên truyền với các mặt
hàng và sản phẩm của ta bằng nhiều hình thức (quảng cáo, cửa hàng, dự hội chợ
v.v… ) trên thị trường thế giới.

10. Tăng cường sự chỉ đạo và lãnh đạo của
Đảng và Nhà nước.

Phát triển sản xuất tạo nguồn hàng đẩy mạnh xuất khẩu là một
nhiệm vụ to lớn cực kỳ quan trọng để xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật và cải
thiện đời sống nhân dân trong quá trình công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa nước
nhà nên đòi hỏi phải có sự lãnh đạo và chỉ đạo tập trung và có hiệu lực của Đảng
và Nhà nước. Các cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp phải coi công tác sản xuất
hàng xuất khẩu là một trong những nhiệm vụ quan trọng, phải quan tâm thường
xuyên, thể hiện không những trong phương hướng của ngành, địa phương mà còn phải
chỉ đạo cụ thể, năng kiểm tra, đôn đốc thực hiện cho được các chỉ tiêu kế hoạch
hàng năm và chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết để mỗi năm đều tăng xuất khẩu
trong kế hoạch 5 năm.

Các ngành, các cấp phải đề cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng,
Chính phủ và nhân dân, kịp thời đề đạt với trung ương Đảng và Chính phủ những
chính sách, biện pháp để thực hiện cho được phương hướng và mục tiêu đẩy mạnh
xuất khẩu trong thời gian tới.

Vì sự nghiệp công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa đưa nước nhà tiến
lên một nền sản xuất lớn có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, văn hóa và
khoa học tiên tiến, quốc phòng vững mạnh, phải đẩy mạnh xuất khẩu. Muốn đẩy mạnh
xuất khẩu phải phát triển sản xuất, tạo nguồn hàng với khối lượng lớn, tập
trung và phẩm chất tốt. Đó là một trong những vấn đề có tầm quan trọng bậc nhất
trong hoạt động kinh tế nước ta hiện nay.

Toàn thể cán bộ và nhân dân, các ngành và các địa phương hãy
đi sát phong trào sản xuất, ra sức cải tiến tổ chức và quản lý sản xuất phát
huy khí thế cách mạng tiến công, nhanh chóng tạo nên bước chuyển biến mới trong
sản xuất và xuất khẩu, tranh thủ thời cơ thuận lợi đưa xuất khẩu nước ta tăng
nhanh, tương xứng với khả năng của nền kinh tế và với vị trí chính trị của nước
ta trên trường quốc tế.

 

TM.  HỘI ĐỒNG
CHÍNH PHỦ

KT. THỦ TƯỚNG CHÍNH
PHỦ

PHÓ THỦ TƯỚNG

 

 

 

 

Phạm Hùng

 

 

TM.  HỘI ĐỒNG
CHÍNH PHỦ

KT. THỦ TƯỚNG CHÍNH
PHỦ

PHÓ THỦ TƯỚNG

 

 

 

 

Phạm Hùng

SOẠN HỢP ĐỒNG, ĐƠN, VĂN BẢN THEO YÊU CẦU CHỈ 500.000đ

--- Gọi ngay 1900.0191 ---

(Tư vấn Miễn phí - Hỗ trợ 24/7)

Công ty Luật LVN - Địa chỉ: Số 16B Nguyễn Thái Học, Yết Kiêu, Hà Đông, Hà Nội, Việt Nam

Gmail: luatlvn@gmail.com